Bước tới nội dung

Benjamin Netanyahu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Benjamin Netanyahu
בנימין נתניהו
Chân dung chính thức, 2023
Thủ tướng Israel thứ 9
Nhậm chức
29 tháng 12 năm 2022
3 năm, 197 ngày
Tổng thốngIsaac Herzog
Tiền nhiệmYair Lapid
Nhiệm kỳ
31 tháng 3 năm 2009  13 tháng 6 năm 2021
12 năm, 74 ngày
Tổng thốngShimon Peres
Reuven Rivlin
Tiền nhiệmEhud Olmert
Kế nhiệmNaftali Bennett
Nhiệm kỳ
18 tháng 6 năm 1996  6 tháng 7 năm 1999
3 năm, 18 ngày
Tổng thốngEzer Weizman
Tiền nhiệmShimon Peres
Kế nhiệmEhud Barak
Lãnh đạo phe đối lập
Nhậm chức
13 tháng 6 năm 2021
Thủ tướngNaftali Bennett
Tiền nhiệmYair Lapid
Nhiệm kỳ
16 tháng 1 năm 2006  6 tháng 4 năm 2009
Thủ tướngEhud Olmert
Tiền nhiệmAmir Peretz
Kế nhiệmTzipi Livni
Nhiệm kỳ
3 tháng 1 năm 1993  18 tháng 6 năm 1996
Thủ tướngYitzhak Rabin
Shimon Peres
Tiền nhiệmYitzhak Shamir
Kế nhiệmShimon Peres
Bộ trưởng Tài chính
Nhiệm kỳ
28 tháng 2 năm 2003  9 tháng 8 năm 2005
2 năm, 162 ngày
Thủ tướngAriel Sharon
Tiền nhiệmSilvan Shalom
Kế nhiệmEhud Olmert
Đại diện Thường trực của Israel tại Liên Hợp Quốc
Nhiệm kỳ
1984  1988
Tổng thốngChaim Herzog
Thủ tướngYitzhak Shamir
Shimon Peres
Tiền nhiệmYehuda Zvi Blum
Kế nhiệmYohanan Bein
Thông tin cá nhân
Sinh21 tháng 10 năm 1949 (76 tuổi)
Tel Aviv, Israel
Đảng chính trịLikud
Likud Beiteinu (2012–2014)
Đảng khácHerut (đến năm 1988)
Phối ngẫuMiriam Weizmann (1972–1978)
Fleus Cates (1981–1984)
Sara Ben-Artzi (1991–nay)
Con cái3
Cha mẹBenzion Netanyahu
Tizla Segal
Alma materViện Công nghệ Massachusetts
Đại học Harvard
Tặng thưởngJabotinsky Medal (1980)
Tôn giáoDo Thái giáo
Chữ ký
Phục vụ trong quân đội
Thuộc Israel
Phục vụ Lực lượng Phòng vệ Israel
Cấp bậcĐại uý
Tham chiếnChiến tranh Tiêu hao
Chiến tranh Yom Kippur

Benjamin "Bibi" Netanyahu[a] (sinh ngày 21 tháng 10 năm 1949) là một chính trị gia và nhà ngoại giao người Israel, hiện đang đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Israel từ năm 2022. Trước đó, ông từng giữ chức vụ này trong các giai đoạn từ 1996 đến 1999 và từ 2009 đến 2021. Netanyahu là vị thủ tướng tại vị lâu nhất trong lịch sử Israel.[2] Sinh ra tại Tel Aviv, Netanyahu lớn lên ở Tây Jerusalem và Hoa Kỳ. Ông trở về Israel vào năm 1967 để gia nhập Quân đội Israel và phục vụ trong lực lượng đặc nhiệm Sayeret Matkal. Năm 1972, ông quay lại Mỹ, sau khi tốt nghiệp Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Netanyahu làm việc cho tập đoàn Boston Consulting Group. Ông trở về Israel năm 1978 và thành lập Viện Chống khủng bố Yonatan Netanyahu. Từ năm 1984 đến 1988, Netanyahu giữ chức Đại sứ Israel tại Liên Hợp Quốc. Ông bắt đầu tạo được tiếng vang lớn trên chính trường sau khi đắc cử chủ tịch đảng Likud vào năm 1993, trở thành lãnh đạo phe đối lập. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1996, Netanyahu trở thành thủ tướng Israel đầu tiên được bầu trực tiếp bằng phổ thông đầu phiếu. Tuy nhiên, ông đã thất bại trong cuộc bầu cử năm 1999 và chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực tư nhân. Sau đó, ông lần lượt giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Tài chính, khởi xướng các cuộc cải cách kinh tế, trước khi từ chức để phản đối kế hoạch rút quân khỏi Gaza của chính phủ đương thời.

Netanyahu trở lại lãnh đạo đảng Likud vào năm 2005 và đứng đầu phe đối lập từ năm 2006 đến 2009. Sau cuộc bầu cử lập pháp năm 2009, Netanyahu thiết lập liên minh và tái đắc cử chức vụ thủ tướng. Từ năm 2016, ông đã biến mối quan hệ thân thiết với Donald Trump thành trọng tâm thu hút cử tri của mình. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, Mỹ đã công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, công nhận chủ quyền của Israel đối với Cao nguyên Golan, đồng thời làm trung gian cho Hiệp định Abraham giữa Israel và Thế giới Ả Rập. Netanyahu từng vấp phải nhiều chỉ trích vì mở rộng các khu định cư Israel tại Bờ Tây bị chiếm đóng, hành động bị coi là bất hợp pháp theo luật pháp quốc tế. Năm 2019, Netanyahu bị truy tố với các cáo buộc như lạm dụng tín nhiệm, nhận hối lộ và gian lận, buộc ông phải từ bỏ tất cả các chức vụ bộ trưởng ngoại trừ ghế thủ tướng. Khủng hoảng chính trị Israel 2018–2022 đã dẫn đến một thỏa thuận luân phiên quyền lực giữa Netanyahu và Benny Gantz. Thỏa thuận này sụp đổ vào năm 2020, dẫn đến cuộc bầu cử năm 2021. Tháng 6 năm 2021, Netanyahu bị bãi nhiệm, nhưng đã sớm trở lại ghế Thủ tướng sau cuộc bầu cử năm 2022.

Các nhiệm kỳ thủ tướng của Netanyahu bị một số người chỉ trích vì gây ra tình trạng xói mòn dân chủ và xu hướng chuyển dịch sang chế độ độc tài. Liên minh của Netanyahu đã thúc đẩy cải cách tư pháp, động thái đã vấp phải các cuộc biểu tình quy mô lớn vào đầu năm 2023. Các cuộc tấn công ngày 7 tháng 10 của các nhóm vũ trang Palestine do Hamas dẫn đầu nhằm vào Israel trong cùng năm đã làm bùng phát Chiến tranh Gaza, khiến Netanyahu phải đối mặt với làn sóng biểu tình toàn quốc vì những sai sót về an ninh và thất bại trong việc giải cứu các con tin Israel. Tháng 10 năm 2024, ông sống sót sau một vụ mưu sát bất thành và ra lệnh xâm lược Liban với mục tiêu được tuyên bố là tiêu diệt khả năng quân sự của Hezbollah, một đồng minh chủ chốt của Hamas. Sau khi chế độ Assad sụp đổ vào tháng 12 năm 2024, Netanyahu chỉ đạo đưa quân vào chiếm đóng Cao nguyên Golan. Ông cũng là người điều hành các cuộc không kích của Israel vào Iran năm 2025, dẫn đến cuộc chiến Mười hai ngày. Vào tháng 2 năm 2026, ông cùng với Hoa Kỳ phát động một cuộc tấn công lớn vào Iran với mục tiêu được tuyên bố là thay đổi chế độ.

Chính phủ của Netanyahu chịu trách nhiệm chính trong cuộc diệt chủng Gaza, lên đến cao trào khi Nam Phi khởi kiện chống lại Israel tại Tòa án Công lý Quốc tế vào tháng 12 năm 2023. Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) đã phát lệnh bắt giữ Netanyahu cùng một số quan chức trong nội các của ông vào tháng 11 năm 2024 vì các cáo buộc liên quan đến tội ác chiến tranhtội ác chống lại loài người, như một phần cuộc điều tra của ICC tại Palestine.

Thời thơ ấu, học vấn và sự nghiệp quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Netanyahu sinh năm 1949 tại Tel Aviv.[3][4] Mẹ ông, bà Tzila Segal, sinh ra tại Petah Tikva thuộc Khu hành chính Jerusalem thời Đế quốc Ottoman; gia đình bà chuyển đến từ Minneapolis vào năm 1911, sau khi rời Litva từ những năm 1870.[5] Bà từng theo học luật tại Gray's Inn, London.[6][7][8] Cha ông, ông Benzion Netanyahu (họ gốc là Mileikowsky), sinh ra tại Warszawa, là một sử gia chuyên về Thời kỳ hoàng kim của văn hóa Do Thái tại Tây Ban Nha. Ông nội của ông, Nathan Mileikowsky, là một rabbi và là nhà văn theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Khi cha của Netanyahu di cư đến Palestine thuộc Anh, ông đã đổi họ sang họ tiếng Do Thái là "Netanyahu", có nghĩa là "Chúa ban tặng." Dù gia đình chủ yếu là người Ashkenazi, ông cho biết kết quả xét nghiệm DNA cho thấy mình cũng có dòng máu Sephardi và khẳng định mình là hậu duệ của Vilna Gaon.[9][10]

Netanyahu là con thứ hai trong gia đình có ba anh em. Thuở nhỏ ông sống tại Jerusalem và theo học tại Trường Tiểu học Henrietta Szold. Một bản đánh giá của giáo viên lớp 6, cô Ruth Rubenstein, nhận xét Netanyahu là một học sinh lịch sự, lễ phép và hay giúp đỡ mọi người; ông "có trách nhiệm, đúng giờ", thân thiện, kỷ luật, vui vẻ, dũng cảm và biết vâng lời.[11]

Trong các giai đoạn 1956–1958 và 1963–1967,[12] gia đình ông sống tại Cheltenham Township, bang Pennsylvania, Mỹ, khi ấy cha ông giảng dạy tại trường Dropsie College.[13] Benjamin tốt nghiệp Trường Trung học Cheltenham, tại đây ông hoạt động tích cực trong câu lạc bộ tranh biện, câu lạc bộ cờ vua và đội bóng đá.[13] Cả ông và anh trai Yonatan đều dần nảy sinh tâm lý bất mãn với những gì họ coi là lối sống nông cạn tại khu vực này, từ phong trào văn hóa phản kháng đang thịnh hành trong giới trẻ lúc bấy giờ cho đến những tư tưởng tự do của giáo đường Cải cách Temple Judea ở Philadelphia – nơi gia đình ông thường xuyên lui tới hành lễ.[13]

Netanyahu trong quân phục Lực lượng Phòng vệ Israel năm 1967

Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1967, Netanyahu trở về Israel để gia nhập Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF). Ông được huấn luyện thành chiến sĩ chiến đấu và phục vụ 5 năm trong đơn vị đặc nhiệm tinh nhuệ Sayeret Matkal. Ông đã tham gia nhiều cuộc đột kích xuyên biên giới trong Chiến tranh Tiêu hao (1967–1970), bao gồm Trận Karameh vào tháng 3 năm 1968, khi IDF tấn công vào Jordan nhằm bắt giữ lãnh đạo PLO Yasser Arafat nhưng đã bị đẩy lui với thương vong nặng nề.[14][15] Ông từng là đội trưởng trong đơn vị và bị thương nhiều lần trong lúc chiến đấu.[16] Netanyahu cũng góp mặt trong nhiều sứ mệnh khác, điển hình là Cuộc tập kích của Israel vào Lebanon năm 1968 và chiến dịch giải cứu chuyến bay Sabena 571 bị không tặc vào tháng 5 năm 1972, nơi ông đã bị trúng đạn vào vai.[17][4] Ông phục viên vào năm 1972 nhưng vẫn nằm trong lực lượng dự bị của Sayeret Matkal. Sau khi xuất ngũ, ông sang Mỹ du học nhưng đã trở lại vào tháng 10 năm 1973 để tham chiến trong Chiến tranh Yom Kippur.[18][19]

Giáo dục đại học

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1972, Netanyahu quay lại Hoa Kỳ để theo học ngành kiến trúc tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Sau một thời gian ngắn trở về Israel để tham chiến trong Chiến tranh Yom Kippur, ông trở lại Mỹ và hoàn thành bằng Cử nhân Khoa học[20] chuyên ngành kiến trúc vào tháng 2 năm 1975 dưới cái tên Ben Nitay.[21] Đến năm 1976, ông nhận bằng thạc sĩ[20] tại Trường Quản trị Sloan thuộc MIT.[22][23] Cùng thời điểm đó, ông cũng đang theo đuổi chương trình tiến sĩ[19] ngành khoa học chính trị.[24][25] Tuy nhiên, con đường học vấn của ông đã bị gián đoạn bởi cái chết của anh trai Yonatan khi đang chỉ huy cuộc đột kích giải cứu tại Entebbe.[19][26]

Benjamin Netanyahu tại mộ của anh trai Yoni Netanyahu, người đã hy sinh khi chỉ huy một chiến dịch chống khủng bố năm 1976

Tại MIT, Netanyahu đã học gấp đôi khối lượng chương trình thông thường, đồng thời theo học các khóa tại Đại học Harvard. Nhờ vậy, ông đã hoàn thành bằng cử nhân kiến trúc chỉ trong hai năm rưỡi, bất chấp việc phải tạm nghỉ để tham gia Chiến tranh Yom Kippur. Giáo sư Leon B. Groisser tại MIT nhớ lại: "Ông ấy đã thể hiện rất xuất sắc. Một người vô cùng thông minh, có óc tổ chức, mạnh mẽ và đầy bản lĩnh. Ông ấy luôn biết mình muốn gì và biết cách để đạt được mục tiêu đó."[19]

Trong thời gian này, ông đổi tên thành Benjamin "Ben" Nitai (cái tên "Nitai" vừa gợi nhắc đến Núi Nitai, vừa chỉ hiền triết Do Thái Nittai của Arbela; đây cũng là bút danh mà cha ông thường dùng khi viết báo).[27] Nhiều năm sau, trong một cuộc phỏng vấn, Netanyahu giải thích rằng ông chọn tên này để người Mỹ dễ phát âm hơn. Tuy nhiên, chi tiết này thường xuyên bị các đối thủ chính trị lợi dụng để gián tiếp cáo buộc ông thiếu bản sắc dân tộc và thiếu lòng trung thành với Tổ quốc Israel.[28]

Sự nghiệp ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn từ năm 1976 đến 1978, Netanyahu làm cố vấn kinh tế[29] cho tập đoàn Boston Consulting Group (BCG) tại Boston, Massachusetts. Tại đây, ông trở thành đồng nghiệp và kết giao thân thiết với Mitt Romney. Romney sau này nhận xét Netanyahu là "một cá tính mạnh mẽ với những quan điểm riêng biệt",[30] trong khi Netanyahu cho rằng sự "thấu hiểu lẫn nhau" giữa họ có được là nhờ trải qua "môi trường rèn luyện trí tuệ khắc nghiệt tại BCG".[30]

Năm 1978, khi xuất hiện trên truyền hình địa phương Boston với cái tên "Ben Nitay", Netanyahu đã thẳng thắn lập luận: "Cốt lõi thực sự của cuộc xung đột nằm ở việc người Ả Rập từ chối công nhận Nhà nước Israel một cách đáng tiếc... Suốt 20 năm, họ đã nắm quyền kiểm soát cả Bờ Tây và Dải Gaza. Nếu quyền tự quyết là trọng tâm của vấn đề như họ đang rêu rao, thì một quốc gia Palestine lẽ ra đã có thể dễ dàng được thành lập từ lâu."[31]

Netanyahu (phải) cùng Sorin Hershko, binh sĩ bị liệt vĩnh viễn sau Chiến dịch Entebbe, ngày 2 tháng 7 năm 1986.

Sau khi trở về Israel năm 1978, Netanyahu giữ chức Giám đốc Viện Chống khủng bố Jonathan Netanyahu[12] (một tổ chức phi chính phủ) cho đến năm 1980. Tiếp đó, từ năm 1980 đến 1982, ông chuyển sang làm giám đốc tiếp thị cho tập đoàn Rim Industries tại Jerusalem.[32]

Sự nghiệp ngoại giao của ông bắt đầu khi được Moshe Arens bổ nhiệm làm Phó Phái đoàn tại Đại sứ quán Israel ở Washington, D.C. (1982–1984).[33] Dù bị triệu tập vào lực lượng dự bị Sayeret Matkal khi Chiến tranh Lebanon 1982 bùng nổ, ông đã xin miễn nhiệm để ở lại Mỹ làm nhiệm vụ phát ngôn, nhằm bảo vệ hình ảnh Israel trước làn sóng chỉ trích quốc tế. Tại đây, ông đã thiết lập một hệ thống quan hệ công chúng cực kỳ hiệu quả và trực tiếp trình bày lập trường của Israel trước giới truyền thông.[34]

Từ năm 1984 đến 1988, ông đảm nhiệm cương vị Đại sứ Israel tại Liên Hợp Quốc.[33] Trong thập niên này, Netanyahu chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Giáo sĩ Menachem M. Schneerson – người mà ông ca ngợi là "nhân vật tầm cỡ nhất thời đại chúng ta".[35] Cũng trong thời gian này, ông đã xây dựng mối quan hệ bằng hữu với Fred Trump, cha của Tổng thống Mỹ tương lai Donald Trump.[36]

Lãnh đạo phe đối lập (1993–1996)

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thềm cuộc bầu cử lập pháp năm 1988, Netanyahu trở về nước và gia nhập đảng Likud. Trong cuộc bầu cử nội bộ, ông được xếp ở vị trí thứ năm trong danh sách của đảng. Sau đó, ông đắc cử thành viên Knesset khóa 12 và lần lượt được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao dưới thời Moshe Arens và David Levy. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Netanyahu và Levy thiếu đi sự cộng tác, thậm chí sự đối đầu giữa hai người ngày càng trở nên gay gắt. Khi Chiến tranh Vùng Vịnh bùng nổ đầu năm 1991, nhờ khả năng tiếng Anh lưu loát, Netanyahu đã trở thành phát ngôn viên chính của Israel trong các buổi phỏng vấn trên CNN và nhiều đài truyền hình khác. Tại Hội nghị Madrid 1991, ông là thành viên trong phái đoàn Israel do Thủ tướng Yitzhak Shamir dẫn đầu. Sau hội nghị này, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng tại Văn phòng Thủ tướng Israel.[33]

Sau thất bại của Likud trong cuộc tổng tuyển cử năm 1992, đảng này đã tổ chức bầu cử lãnh đạo vào năm 1993. Netanyahu đã giành chiến thắng thuyết phục trước Benny Begin (con trai cố Thủ tướng Menachem Begin) và chính trị gia kỳ cựu David Levy[37] (Ariel Sharon ban đầu cũng có ý định tranh cử nhưng sớm rút lui vì không nhận được nhiều sự ủng hộ). Cựu Thủ tướng Shamir cũng tuyên bố từ giã chính trường ngay sau thất bại của đảng vào năm 1992.[38]

Sau vụ ám sát Thủ tướng Yitzhak Rabin, người kế nhiệm tạm thời là Shimon Peres đã quyết định kêu gọi bầu cử sớm nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của cử tri để tiếp tục thúc đẩy tiến trình hòa bình.[39] Netanyahu trở thành ứng cử viên Thủ tướng của đảng Likud trong cuộc tổng tuyển cử ngày 29 tháng 5 năm 1996. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, cử tri Israel được bầu trực tiếp Thủ tướng.[40] Ông đã thuê chuyên gia chiến dịch người Mỹ Arthur J. Finkelstein điều hành hoạt động tranh cử của mình.[41] Kết quả, Netanyahu đã giành chiến thắng, trở thành Thủ tướng trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước này và là người đầu tiên giữ chức vụ này sinh ra tại chính Nhà nước Israel (Yitzhak Rabin sinh ra ở Jerusalem dưới thời Ủy trị Anh, trước khi nhà nước Israel được thành lập năm 1948).[40]

Chiến thắng của Netanyahu trước "ứng cử viên nặng ký" Shimon Peres đã gây bất ngờ lớn. Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của Peres là làn sóng đánh bom tự sát diễn ra ngay sát kỳ bầu cử; tiêu biểu là các vụ đánh bom vào ngày 3 và 4 tháng 3 năm 1996 khiến 32 người Israel thiệt mạng, trong khi chính phủ của Peres dường như bất lực trong việc ngăn chặn. Trong chiến dịch tranh cử, Netanyahu nhấn mạnh rằng mọi tiến triển của tiến trình hòa bình phải dựa trên việc Chính quyền Quốc gia Palestine thực hiện đầy đủ các cam kết – chủ yếu là chống khủng bố – với khẩu hiệu tranh cử: "Netanyahu – kiến tạo hòa bình an toàn". Mặc dù Netanyahu thắng cử Thủ tướng, nhưng đảng Lao động của Peres lại giành được nhiều ghế hơn trong Knesset. Do đó, Netanyahu buộc phải liên minh với các đảng Do Thái giáo cực đoan như Shas và United Torah Judaism để thành lập chính phủ.[42]

Thủ tướng (1996–99)

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu lần đầu gặp Chủ tịch Palestine Yasser Arafat tại cửa khẩu Erez, ngày 4 tháng 9 năm 1996.

Cuộc bầu cử năm 1996 diễn ra trong bối cảnh bạo lực leo thang khi Hamas thực hiện hàng loạt vụ đánh bom tự sát nhằm trả đũa việc Israel ám sát thủ lĩnh quân sự Yahya Ayyash. Làn sóng tấn công này, cùng với sự thất bại của cơ quan tình báo trong việc ngăn chặn khủng bố, đã trực tiếp dẫn đến thất bại của Thủ tướng Shimon Peres và giúp Netanyahu – người có lập trường phản đối Hiệp định Oslo – giành chiến thắng.

Dù có quan điểm cứng rắn, Netanyahu vẫn tiến hành hội đàm với Yasser Arafat và ký kết Nghị định thư Hebron vào tháng 1 năm 1997 về việc rút quân khỏi Hebron.[43] Tuy nhiên, quan hệ hai bên sớm rạn nứt sau quyết định mở lối thoát cho Đường hầm Bức tường phía Tây của Netanyahu, gây ra các cuộc bạo động đẫm máu của người Palestine.[44]

Năm 1998, dưới sự trung gian của Mỹ, ông tiếp tục ký kết Bản ghi nhớ Sông Wye để thực thi các thỏa thuận tạm thời năm 1995. Dù vậy, ông vẫn kiên định chính sách "Ba không": không rút khỏi Cao nguyên Golan, không thảo luận về quy chế Jerusalem và không đàm phán có điều kiện tiên quyết.[45]

Netanyahu cùng Tổng thống Bill Clinton, Vua Hussein của JordanYasser Arafat năm 1996.

Về mặt an ninh, nhiệm kỳ này ghi dấu những thất bại lớn. Năm 1997, Mossad ám sát hụt thủ lĩnh Hamas Khaled Mashal tại Jordan, tạo nên một thảm họa ngoại giao. Để giải cứu các đặc vụ bị bắt, Netanyahu buộc phải cung cấp thuốc giải cho Mashal và trả tự do cho Sheikh Ahmad Yassin, gây tổn hại nghiêm trọng đến quan hệ với Jordan.[46] Cùng lúc, vụ Phục kích Ansariya do Hezbollah thực hiện khiến 12 lính đặc nhiệm Israel tử nạn cũng giáng một đòn mạnh vào hình ảnh "nhà lãnh đạo cứng rắn" của ông.[47]

Trên phương diện đối nội, Netanyahu đẩy mạnh tự do hóa kinh tế thông qua việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và nới lỏng kiểm soát ngoại hối, cho phép người dân tự do đầu tư ra nước ngoài.[48]

Tuy nhiên, sự phản đối từ cả phe tả lẫn phe hữu, cùng hàng loạt bê bối tham nhũng và lạm dụng quyền lực liên quan đến việc bổ nhiệm quan chức đã khiến uy tín của ông sụt giảm nghiêm trọng.[49] Những yếu tố này, kết hợp với thất bại trong việc kiềm chế Hamas và Hezbollah, đã dẫn đến việc Netanyahu bị đánh bại trong cuộc tổng tuyển cử năm 1999.[50]

Giai đoạn tạm rời chính trường (1999–2003)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại trước Ehud Barak trong cuộc bầu cử Thủ tướng năm 1999, Netanyahu tạm thời rút lui khỏi chính trường.[51] Trong hai năm tiếp theo, ông làm cố vấn cấp cao cho BATM Advanced Communications, một nhà sản xuất thiết bị viễn thông của Israel.[52][53]

Cuối năm 2000, khi chính phủ của Barak sụp đổ, Netanyahu bày tỏ ý định quay lại chính trường. Theo luật, việc Barak từ chức chỉ dẫn đến bầu cử riêng cho vị trí Thủ tướng, nhưng Netanyahu kiên quyết yêu cầu tổ chức tổng tuyển cử để đảm bảo một chính phủ ổn định. Cuối cùng, ông quyết định không ra tranh cử, tạo điều kiện cho sự lên nắm quyền của Ariel Sharon – người vào thời điểm đó được coi là ít được ưa chuộng hơn Netanyahu. Năm 2002, sau khi Công đảng Israel rời khỏi liên minh, Thủ tướng Ariel Sharon đã bổ nhiệm Netanyahu làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.[33] Netanyahu đã thách thức Sharon trong cuộc đua ghế lãnh đạo đảng Likud, nhưng không thể lật đổ được vị thế của ông này.[54]

Ngày 9 tháng 9 năm 2002, một bài phát biểu dự kiến của Netanyahu tại Đại học Concordia ở Montreal, Canada đã bị hủy bỏ sau khi hàng trăm người biểu tình ủng hộ Palestine áp đảo lực lượng an ninh và đập phá cửa sổ. Netanyahu không có mặt tại hiện trường lúc đó mà vẫn ở lại khách sạn. Sau đó, ông đã cáo buộc những người hoạt động này ủng hộ khủng bối và theo đuổi "sự cuồng tín điên rồ".[55] Vài tuần sau, khoảng 200 người biểu tình tiếp tục bám theo Netanyahu tại Pittsburgh, nhưng nhờ sự can thiệp của cảnh sát và đơn vị SWAT, ông vẫn thực hiện được các bài diễn thuyết của mình tại trung tâm thành phố và ngoại ô.[56]

Ngày 12 tháng 9 năm 2002, Netanyahu đã vận động cho cuộc xâm lược Iraq khi ra điều trần với tư cách công dân trước Ủy ban Cải cách Chính phủ thuộc Hạ viện Hoa Kỳ. Về mối đe dọa hạt nhân từ chế độ Iraq, ông khẳng định: "Không còn nghi ngờ gì nữa, Saddam đang tìm kiếm, nỗ lực và tiến tới việc phát triển vũ khí hạt nhân…"[57][58] Ông cũng quả quyết rằng: "Nếu các ngài hạ bệ Saddam và chế độ của ông ta, tôi đảm bảo điều đó sẽ tạo ra những tác động tích cực to lớn lan tỏa khắp khu vực."[58]

Bộ trưởng Tài chính (2003–2005)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc tổng tuyển cử năm 2003, trong một động thái khiến nhiều quan sát viên bất ngờ, Sharon đã giao Bộ Ngoại giao cho Silvan Shalom và đề nghị Netanyahu giữ chức Bộ trưởng Tài chính. Một số chuyên gia nhận định Sharon làm vậy vì coi Netanyahu là một mối đe dọa chính trị sau những thành tựu của ông ở Bộ Ngoại giao; việc đưa ông vào Bộ Tài chính trong thời kỳ kinh tế bất ổn có thể làm giảm uy tín của Netanyahu. Netanyahu đã chấp thuận sự bổ nhiệm này. Giữa Sharon và Netanyahu sau đó đã có một thỏa thuận: Netanyahu được toàn quyền hành động tại Bộ Tài chính với sự ủng hộ cải cách từ Sharon, đổi lại Netanyahu sẽ giữ im lặng trước cách điều hành các vấn đề quân sự và ngoại giao của Thủ tướng.[59]

Trên cương vị Bộ trưởng Tài chính, Netanyahu đã thực thi một kế hoạch kinh tế nhằm vực dậy nền kinh tế Israel từ mức đáy trong thời kỳ Intifada lần thứ hai.[60] Ông cho rằng khu vực công phình to và các quy định hành chính quá mức là nguyên nhân chính kìm hãm tăng trưởng. Kế hoạch của ông thúc đẩy tự do hóa thị trường, dù vấp phải không ít chỉ trích. Netanyahu đã triển khai chương trình chấm dứt sự phụ thuộc vào phúc lợi bằng cách yêu cầu người dân phải tìm việc làm hoặc đào tạo nghề, giảm quy mô khu vực công, đóng băng chi tiêu chính phủ trong ba năm và giới hạn thâm hụt ngân sách ở mức 1%. Hệ thống thuế được tinh giản và cắt giảm đáng kể: thuế thu nhập cá nhân cao nhất giảm từ 64% xuống 44%, và thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 36% xuống 18%. Hàng loạt tài sản nhà nước trị giá hàng tỷ đô la đã được tư hữu hóa, bao gồm các ngân hàng, nhà máy lọc dầu, hãng hàng không quốc gia El Al và tập đoàn vận tải Zim Integrated Shipping Services. Độ tuổi nghỉ hưu của cả nam và nữ đều được nâng lên, và các luật trao đổi ngoại tệ tiếp tục được nới lỏng. Ông cũng tấn công vào các nhóm độc quyền và cartel để tăng cường tính cạnh tranh. Khi nền kinh tế Israel bắt đầu bùng nổ và tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh, các nhà bình luận đã ca ngợi Netanyahu là người tạo ra "phép màu kinh tế" vào cuối nhiệm kỳ của ông.[59][61][62]

Tuy nhiên, các đối thủ ở Công đảng (và ngay cả một số người trong chính đảng Likud của ông) lại coi các chính sách của Netanyahu là sự tấn công kiểu "Thatcher" vào hệ thống an sinh xã hội vốn được coi trọng của Israel.[63] Dù vậy, kết quả cuối cùng cho thấy thất nghiệp giảm trong khi tăng trưởng kinh tế vọt lên, tỷ lệ nợ trên GDP giảm xuống mức thấp hàng đầu thế giới và đầu tư nước ngoài đạt mức cao kỷ lục.[59]

Năm 2004, Netanyahu đe dọa sẽ từ chức trừ khi kế hoạch rút quân khỏi Gaza được đưa ra trưng cầu dân ý. Sau đó, ông đã sửa đổi tối hậu thư này và bỏ phiếu ủng hộ chương trình tại Knesset, nhưng ngay lập tức tuyên bố sẽ từ chức nếu cuộc trưng cầu dân ý không được tổ chức trong vòng 14 ngày.[64] Ông nộp đơn từ chức vào ngày 7 tháng 8 năm 2005, ngay trước khi nội các Israel bỏ phiếu thông qua giai đoạn đầu của việc rút quân khỏi Dải Gaza với tỷ lệ 17 thuận - 5 chống.[65]

Lãnh đạo phe đối lập (2006–2009)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Sharon rời khỏi Likud, Netanyahu trở thành một trong những ứng viên hàng đầu cạnh tranh ghế chủ tịch đảng.[66] Trước đó, vào tháng 9 năm 2005, ông từng nỗ lực tổ chức bầu cử sơ bộ sớm nhằm thay thế Sharon khi vị này đang đương chức Thủ tướng, nhưng sáng kiến này đã bị đảng bác bỏ. Đến ngày 20 tháng 12 năm 2005, Netanyahu chính thức giành lại quyền lãnh đạo với 47% số phiếu bầu, vượt qua Silvan Shalom (32%) và Moshe Feiglin (15%).[66] Trong cuộc bầu cử Knesset tháng 3 năm 2006, Likud chỉ về thứ ba sau Kadima và Công đảng, khiến Netanyahu phải đảm nhiệm vai trò Lãnh đạo phe đối lập.[67] Ngày 14 tháng 8 năm 2007, ông tái đắc cử chủ tịch đảng và trở thành ứng viên Thủ tướng với 73% phiếu bầu.[68] Ông cực lực phản đối Thỏa thuận ngừng bắn Israel–Hamas 2008, nhận định rằng: "Đây không phải là sự thư giãn, mà là một sự đồng thuận của Israel để Hamas tái vũ trang... Chúng ta nhận lại được gì từ việc này?"[69]

Sau khi Tzipi Livni đắc cử lãnh đạo đảng Kadima và Olmert từ chức, Netanyahu đã từ chối gia nhập liên minh do Livni thành lập và ủng hộ việc tổ chức bầu cử mới vào tháng 2 năm 2009.[70][71] Trong cuộc bầu cử năm 2009, Likud bám đuổi sát sao với Kadima. Dù các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy Likud dẫn trước, nhưng thực tế một lượng lớn cử tri vẫn chưa quyết định cho đến phút chót.[72]

Kết quả bầu cử cho thấy Likud giành được số ghế cao thứ hai, kém đảng của Livni đúng một ghế. Nguyên nhân được cho là một bộ phận cử tri ủng hộ Likud đã chuyển sang đảng Yisrael Beiteinu của Avigdor Lieberman. Tuy nhiên, Netanyahu vẫn tuyên bố chiến thắng dựa trên thực tế là các đảng cánh hữu chiếm đa số tổng số phiếu. Vào ngày 20 tháng 2 năm 2009, Tổng thống Shimon Peres đã chỉ định Netanyahu kế nhiệm Ehud Olmert làm Thủ tướng và bắt đầu quá trình đàm phán thành lập chính phủ liên minh.[73]

Mặc dù khối cánh hữu chiếm đa số 65 ghế tại Knesset, Netanyahu vẫn ưu tiên một liên minh trung dung rộng rãi hơn và đề nghị đảng Kadima tham chính. Tuy nhiên, lần này đến lượt Livni từ chối do những bất đồng sâu sắc về tiến trình hòa bình. Cuối cùng, Netanyahu đã thuyết phục được Công đảng Israel của Ehud Barak gia nhập chính phủ, mang lại màu sắc trung dung cho nội các của mình. Ngày 31 tháng 3 năm 2009, Netanyahu trình diện nội các trước Knesset. Chính phủ thứ 32 đã được thông qua với đa số 69 phiếu thuận trên 45 phiếu chống và chính thức tuyên thệ nhậm chức cùng ngày.[74][75]

Thủ tướng (2009–2021)

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu trong cuộc gặp với Tổng thống Dmitry Medvedev tại Nga, ngày 24 tháng 3 năm 2011.
Netanyahu cùng Yohanan Danino, người được bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng Israel năm 2011.

Năm 2009, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bày tỏ sự ủng hộ đối với việc thành lập một Nhà nước Palestine – một giải pháp mà Netanyahu ban đầu không tán thành,[76] dù bà khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với chính phủ của ông.[77] Netanyahu tuyên bố rằng mọi cuộc đàm phán với người Palestine đều phải dựa trên điều kiện họ phải công nhận Israel là một quốc gia Do Thái.[78]

Trong bài phát biểu tại Cairo năm 2009, Tổng thống Barack Obama tuyên bố Mỹ "không chấp nhận tính hợp pháp của các khu định cư Israel đang tiếp diễn."[79] Mười ngày sau đó, vào ngày 14 tháng 6, Netanyahu đã đáp lại bằng một bài diễn văn ủng hộ giải pháp "Nhà nước Palestine phi quân sự".[80] Ông nêu điều kiện chấp nhận nhà nước này nếu Jerusalem vẫn là thủ đô thống nhất của Israel, người Palestine không có quân đội và từ bỏ yêu sách về Quyền trở về của người Palestine. Ông cũng bảo vệ quyền "phát triển tự nhiên" của các khu định cư Do Thái hiện có ở Bờ Tây.[79] Đây là lần đầu tiên Netanyahu công khai ủng hộ sự tồn tại của một nhà nước Palestine song song với Israel,[81] đồng thời sẵn sàng gặp gỡ bất kỳ "lãnh đạo Ả Rập" nào để đàm phán.[82]

Bài phát biểu đã gây ra nhiều phản ứng trái chiều. Phe cánh hữu trong liên minh của Netanyahu chỉ trích ông vì đã chấp nhận ý tưởng về một nhà nước Palestine,[83] trong khi lãnh đạo phe đối lập Tzipi Livni cho rằng ông không thực lòng tin vào Giải pháp hai nhà nước mà chỉ đang đối phó với áp lực quốc tế.[84] Về phía Palestine, chính quyền Ramallah bác bỏ các điều kiện của ông, cho rằng tuyên bố về Jerusalem và định cư đã "đóng cánh cửa đàm phán".[79] Hamas gọi đây là tư tưởng "phân biệt chủng tộc và cực đoan",[85] còn Liên đoàn Ả Rập tuyên bố sẽ không nhân nhượng về vấn đề Jerusalem và người tị nạn.[86] Ngược lại, EU và chính quyền Obama đánh giá đây là một "bước tiến quan trọng".[87]

Trong những tháng đầu nhiệm kỳ, Netanyahu đã dỡ bỏ nhiều trạm kiểm soát tại Bờ Tây để thúc đẩy tự do đi lại, tạo ra một cú hích kinh tế cho khu vực này.[88] Ông cũng hoan nghênh Sáng kiến Hòa bình Ả Rập và đánh giá cao lời kêu gọi bình thường hóa quan hệ từ phía Bahrain.[89] Tuy nhiên, mâu thuẫn về việc xây dựng khu định cư vẫn là rào cản lớn. Tháng 9 năm 2009, Netanyahu đồng ý phê duyệt thêm các dự án xây dựng trước khi thực hiện lệnh đóng băng tạm thời, khiến Nhà Trắng bày tỏ sự lấy làm tiếc.[90]

Tháng 9 năm 2009, Netanyahu đã có một chuyến công du bí mật đến Moscow, gây ra nhiều đồn đoán trên truyền thông.[91] Các nguồn tin cho rằng ông đã trực tiếp thuyết phục giới chức Nga không bán hệ thống tên lửa phòng không S-300 cho Iran.[92] Dù vụ việc bị báo chí chỉ trích là một "thất bại" về mặt truyền thông do tính bảo mật quá cao, tờ The Sunday Times tiết lộ chuyến đi nhằm chia sẻ danh sách các nhà khoa học Nga bị nghi ngờ đang hỗ trợ chương trình vũ khí hạt nhân của Iran.[93]

Ngày 24 tháng 9 năm 2009, trong bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Netanyahu khẳng định Iran là mối đe dọa đối với hòa bình thế giới và nhấn mạnh trách nhiệm của Liên Hợp Quốc trong việc ngăn chặn quốc gia này sở hữu vũ khí hạt nhân.[94][95] Giơ cao bản thiết kế trại tập trung Auschwitz và khơi lại ký ức về những người thân trong gia đình đã bị Đức quốc xã sát hại, Netanyahu đã đưa ra lời đáp trả đanh thép trước việc Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad hoài nghi về thảm họa Holocaust với câu hỏi: "Ông không biết xấu hổ sao?"[96]

Trước sức ép từ chính quyền Obama nhằm nối lại các cuộc đàm phán hòa bình, ngày 25 tháng 11, Netanyahu tuyên bố tạm dừng một phần việc xây dựng các khu định cư trong vòng 10 tháng. Tuy nhiên, quyết định này không có tác động đáng kể đến thực tế xây dựng trên thực địa.[97] Đặc sứ Hoa Kỳ George J. Mitchell nhận định: "Mặc dù Hoa Kỳ chia sẻ mối quan tâm của thế giới Ả Rập về những hạn chế trong động thái của Israel, nhưng đây là điều mà chưa chính phủ Israel nào từng thực hiện trước đây".[98] Netanyahu gọi đây là "một bước đi đau đớn để thúc đẩy tiến trình hòa bình" và kêu gọi phía Palestine phản hồi tích cực.[99] Phía Palestine đã bác bỏ lời kêu gọi này, cho rằng động thái này "không đáng kể" vì hàng nghìn công trình đã được phê duyệt tại Bờ Tây vẫn tiếp tục được xây dựng và không có lệnh dừng hoạt động định cư tại Đông Jerusalem.[100]

Tháng 3 năm 2010, chính phủ Israel phê duyệt việc xây dựng thêm 1.600 căn hộ tại dự án nhà ở dành cho người Do Thái Ramat Shlomo ở đông bắc Jerusalem,[101] bất chấp quan điểm của Mỹ cho rằng những hành động như vậy sẽ cản trở các cuộc đàm phán hòa bình. Thông báo này được đưa ra ngay trong chuyến thăm của Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden, khiến phía Mỹ công khai lên án kế hoạch.[102] Netanyahu sau đó tuyên bố rằng mọi chính phủ tiền nhiệm của Israel đều liên tục cho phép xây dựng trong khu vực này, và một số khu dân cư nhất định luôn được coi là một phần của Israel trong mọi phương án thỏa thuận cuối cùng từ cả hai phía.[101] Dù lấy làm tiếc về thời điểm công bố, Netanyahu khẳng định: "Chính sách của chúng tôi đối với Jerusalem vẫn giữ nguyên như chính sách mà mọi chính phủ Israel đã theo đuổi suốt 42 năm qua... không hề thay đổi."[103]

Netanyahu, Hillary Clinton, George J. MitchellMahmoud Abbas khi bắt đầu các cuộc đàm phán trực tiếp, ngày 2 tháng 9 năm 2010.

Tháng 9 năm 2010, Netanyahu đồng ý tham gia các cuộc đàm phán trực tiếp với người Palestine dưới sự trung gian của chính quyền Obama.[104] Mục tiêu là đạt được một "thỏa thuận về quy chế cuối cùng" cho cuộc xung đột thông qua Giải pháp hai nhà nước. Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 9, khi lệnh đóng băng định cư 10 tháng kết thúc, chính phủ Israel đã phê duyệt việc xây dựng mới tại Bờ Tây, bao gồm cả Đông Jerusalem.[105] Khi nghỉ hưu năm 2011, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates nhận định Netanyahu là người "vô ơn" với Mỹ và đang gây nguy hiểm cho Israel. Đảng Likud đã lên tiếng bảo vệ Netanyahu, khẳng định đa số người dân Israel và Mỹ đều ủng hộ ông.[106] Năm 2012, trong một bức thư gửi Mahmoud Abbas, Netanyahu lần đầu tiên chính thức công nhận quyền có nhà nước riêng của người Palestine trong một văn bản nhà nước, dù vẫn duy trì yêu cầu rằng nhà nước đó phải được phi quân sự hóa.[107]

Netanyahu cũng đã nỗ lực kêu gọi trả tự do sớm cho Jonathan Pollard, một công dân Mỹ đang thụ án chung thân vì chuyển tài liệu mật cho Israel vào năm 1987.[108] Ông từng nêu vấn đề này tại Hội nghị Thượng đỉnh Sông Wye năm 1998 và khẳng định Tổng thống Bill Clinton đã riêng tư đồng ý thả Pollard.[109] Năm 2002, Netanyahu đã đến thăm Pollard tại nhà tù ở Bắc Carolina.[110] Ông duy trì liên lạc với vợ của Pollard và liên tục gây sức ép với chính quyền Obama để yêu cầu trả tự do cho đặc vụ này.[111][112]

Các cuộc biểu tình đòi công bằng xã hội năm 2011 đã thu hút hàng trăm nghìn người xuống đường phản đối chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại Israel. Đáp lại, Netanyahu đã thành lập Ủy ban Trajtenberg để nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho người dân.[113] Dù Netanyahu cam kết sẽ thúc đẩy thông qua toàn bộ gói cải cách tại nội các, nhưng những bất đồng sâu sắc trong liên minh cầm quyền đã khiến các chính sách này chỉ được áp dụng một cách nhỏ giọt.[114]

Cũng trong nhiệm kỳ này, nội các của Netanyahu đã phê duyệt kế hoạch xây dựng mạng lưới cáp quang toàn quốc nhằm cung cấp dịch vụ Internet cáp quang tốc độ cao với giá thành rẻ tới từng hộ gia đình.[115][116]

Năm 2012, Netanyahu dự định kêu gọi bầu cử sớm nhưng sau đó đã chỉ đạo thành lập một chính phủ đoàn kết dân tộc để điều hành đất nước cho đến kỳ bầu cử năm 2013.[117] Đến tháng 10 năm 2012, Netanyahu và Bộ trưởng Ngoại giao Avigdor Lieberman thông báo rằng hai đảng của họ là Likud và Yisrael Beiteinu sẽ hợp nhất để cùng tham gia tranh cử trong một danh sách chung tại cuộc bầu cử năm 2013.[118]

Nhiệm kỳ thứ ba

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc bầu cử năm 2013 đã đưa liên minh Likud Yisrael Beiteinu của Netanyahu trở lại nắm quyền, dù mất đi 11 ghế so với tổng số ghế của hai đảng trước khi sáp nhập.[119] Tổng thống Shimon Peres sau đó đã giao cho Netanyahu trọng trách thành lập Chính phủ thứ 33 của Israel.[120] Trong nhiệm kỳ này, Netanyahu tiếp tục đẩy mạnh chính sách tự do hóa kinh tế. Tháng 12 năm 2013, Quốc hội thông qua Luật Tập trung Kinh doanh nhằm phá vỡ các nhóm lợi ích độc quyền, giảm giá tiêu dùng và thu hẹp bất bình đẳng thu nhập. Đạo luật này cấm các cấu trúc công ty mẹ nhiều tầng – nơi các gia đình tài phiệt có thể kiểm soát hàng loạt công ty đại chúng để thao túng giá cả.[121] Ông cũng triển khai tư hữu hóa các cảng biển tại HaifaAshdod để xóa bỏ thế độc quyền của Tổng cục Cảng biển Israel, giúp giảm chi phí và thúc đẩy xuất khẩu.[122]

Netanyahu cùng Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Israel Reuven Rivlin tại tang lễ của ông Shimon Peres, Jerusalem, ngày 30 tháng 9 năm 2016.

Về mặt đối ngoại, năm 2014 chứng kiến sự rạn nứt nghiêm trọng khi Hamas và Chính quyền Palestine thành lập chính phủ đoàn kết. Netanyahu chỉ trích gay gắt việc Mỹ và châu Âu chấp nhận làm việc với liên minh này.[123] Sau vụ ba thiếu niên Israel bị bắt cóc và sát hại vào tháng 6 năm 2014, Netanyahu cáo buộc Hamas đứng sau vụ việc và phát động chiến dịch bắt giữ quy mô lớn tại Bờ Tây cùng các cuộc không kích vào Gaza.[124] Căng thẳng leo thang dẫn đến Chiến dịch Vành đai Bảo vệ tại Dải Gaza, chính thức chấm dứt thỏa thuận ngừng bắn năm 2012.[125] Trên truyền hình Mỹ, ông mô tả Hamas là "những kẻ khủng bố diệt chủng".[126]

Mối quan hệ giữa Netanyahu và Nhà Trắng chạm mức thấp kỷ lục vào tháng 10 năm 2014 khi ông gọi những lời chỉ trích về khu định cư là "đi ngược lại giá trị Mỹ". Nhà Trắng đáp trả rằng chính những giá trị Mỹ đã giúp Israel nhận được các khoản viện trợ và công nghệ bảo vệ như Vòm Sắt.[127] Sự căng thẳng tiếp tục dâng cao khi Netanyahu nhận lời phát biểu trước Quốc hội Mỹ về vấn đề hạt nhân Iran vào đầu năm 2015 mà không thông qua chính quyền Obama. Chuyến đi này bị chỉ trích là một nỗ lực nhằm phá hoại các cuộc đàm phán hạt nhân quốc tế với Iran.[128]

Sát ngày bầu cử năm 2015, Netanyahu tuyên bố sẽ không có nhà nước Palestine nào được thành lập trong nhiệm kỳ của mình, vì cho rằng điều đó sẽ tạo điều kiện cho các nhóm khủng bố tấn công Israel.[129] Tuy nhiên, sau khi đắc cử, ông đã đính chính rằng mình vẫn ủng hộ một Giải pháp hai nhà nước bền vững và không thay đổi chính sách, nhưng các điều kiện hiện tại chưa cho phép thực hiện.[130]

Ngày 2 tháng 12 năm 2014, Netanyahu sa thải các bộ trưởng Yair Lapid và Tzipi Livni, dẫn đến việc giải tán chính phủ và tổ chức bầu cử sớm vào tháng 3 năm 2015.[131]

Nhiệm kỳ thứ tư

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu và Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo
Netanyahu, Joseph Dunford và các cựu chiến binh Do Thái trong Hồng quân, kỷ niệm Ngày Chiến thắng tại Jerusalem, 9 tháng 5 năm 2017
Netanyahu gặp Tổng thống Donald Trump tại Jerusalem, tháng 5 năm 2017.
Netanyahu gặp Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko, 24 tháng 1 năm 2018.
Tổng thống Trump ký tuyên bố công nhận việc Israel sáp nhập Cao nguyên Golan, tháng 3 năm 2019.

Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2015, Netanyahu đã đưa đảng Likud dẫn đầu với 30 ghế tại Knesset. Sau khi các cuộc đàm phán liên minh kéo dài quá bốn tuần đầu tiên, Tổng thống Rivlin đã gia hạn cho Netanyahu đến ngày 6 tháng 5 năm 2015 để hoàn tất chính phủ.[132] Cuối cùng, ông đã chốt được thỏa thuận liên minh chỉ hai giờ trước hạn chót nửa đêm ngày 6 tháng 5.[133] Liên minh này bao gồm đảng Likud phối hợp cùng các đảng Nhà Do Thái (Jewish Home), United Torah Judaism, Kulanu và Shas.[133][134]

Tháng 8 năm 2015, chính phủ của Netanyahu đã thông qua kế hoạch ngân sách hai năm với hàng loạt cải cách: tinh giản nông nghiệp và giảm thuế nhập khẩu để hạ giá thực phẩm, đơn giản hóa thủ tục cấp phép xây dựng nhằm giảm chi phí nhà ở, đồng thời cải tổ ngành tài chính để thúc đẩy cạnh tranh và giảm phí dịch vụ.[135] Tuy nhiên, do áp lực chính trị, chính phủ cuối cùng đã phải nhượng bộ bằng cách lược bỏ một số cải cách nông nghiệp then chốt.[136]

Tháng 10 năm 2015, Netanyahu gây bão dư luận khi tuyên bố rằng Đại giáo trưởng Jerusalem, Haj Amin al-Husseini, là người đã gợi ý cho Adolf Hitler thực hiện chiến dịch diệt chủng người Do Thái thay vì chỉ trục xuất họ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[137][138] Tuyên bố này đã bị phần lớn các sử gia bác bỏ,[139] vì cuộc gặp giữa al-Husseini và Hitler diễn ra sau khi các vụ thảm sát hàng loạt người Do Thái đã bắt đầu được khoảng năm tháng.[140] Nhiều học giả Israel đã phản ứng gay gắt; sử gia Yehuda Bauer gọi nhận định của Netanyahu là "hoàn toàn ngớ ngẩn",[140] còn Moshe Zimmermann khẳng định rằng "mọi nỗ lực đổ lỗi cho người khác ngoài Hitler đều là một dạng của phủ nhận Holocaust."[141]

Tháng 3 năm 2016, liên minh của Netanyahu đối mặt với nguy cơ sụp đổ khi các thành viên Do Thái giáo cực đoan đe dọa rút lui để phản đối kế hoạch xây dựng không gian cầu nguyện chung (dành cho các nhóm không thuộc Chính thống giáo) tại Bức tường phía Tây. Họ tuyên bố sẽ rời khỏi liên minh nếu chính phủ có thêm bất kỳ sự công nhận chính thức nào đối với các nhánh Do Thái giáo Bảo thủ và Cải cách.[142]

Vào ngày 23 tháng 12 năm 2016, dưới thời Chính quyền Obama, Hoa Kỳ đã bỏ phiếu trắng đối với Nghị quyết 2334 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tạo điều kiện để nghị quyết này được thông qua.[143] Ngày 28 tháng 12, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã có bài phát biểu chỉ trích gay gắt chính sách định cư của Israel.[144] Đáp lại, Netanyahu phản đối kịch liệt cả nghị quyết của LHQ lẫn bài phát biểu của Kerry.[145] Ngày 6 tháng 1 năm 2017, chính phủ Israel đã quyết định cắt giảm 6 triệu đô la Mỹ tiền đóng góp hàng năm cho Liên Hợp Quốc để phản đối cuộc bỏ phiếu này.[146]

Tháng 2 năm 2017, Netanyahu trở thành vị Thủ tướng Israel đương nhiệm đầu tiên đến thăm Australia. Tháp tùng ông trong chuyến thăm chính thức kéo dài ba ngày này là phu nhân Sara cùng phái đoàn đại diện các doanh nghiệp. Dự kiến, Netanyahu và Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull sẽ ký kết một số thỏa thuận song phương. Tại đây, Netanyahu đã nhắc lại sự kiện các Lữ đoàn Kỵ binh nhẹ Australia giải phóng Beersheba trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, coi đó là cột mốc khởi đầu cho mối quan hệ kéo dài 100 năm giữa hai quốc gia.[147]

Tháng 10 năm 2017, chính phủ của Netanyahu thông báo rút khỏi UNESCO vì cho rằng cơ quan này có những hoạt động chống lại Israel.[148][149] Quyết định này chính thức có hiệu lực vào tháng 12 năm 2017 sau khi chính phủ Israel gửi văn bản thông báo cho UNESCO.[150][151]

Tháng 4 năm 2018, Netanyahu cáo buộc Iran không tuân thủ các cam kết trong thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA) sau khi công bố kho lưu trữ gồm hơn 100.000 tài liệu chi tiết về quy mô chương trình hạt nhân của nước này. Phía Iran đã bác bỏ và gọi phần trình bày của Netanyahu là "đòn quảng bá chính trị".[152]

Netanyahu cũng bày tỏ sự hoan nghênh đối với Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều tại Singapore. Trong một tuyên bố, ông nói: "Tôi tán dương Tổng thống Mỹ Donald Trump về hội nghị lịch sử tại Singapore. Đây là một bước tiến quan trọng trong nỗ lực loại bỏ vũ khí hạt nhân khỏi bán đảo Triều Tiên."[153]

Tháng 7 năm 2018, Knesset đã thông qua Đạo luật Nhà nước Dân tộc, một Luật Cơ bản nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ chính phủ liên minh của Netanyahu.[154][155] Các nhà phân tích nhận định đạo luật này là dấu hiệu cho thấy liên minh của Netanyahu đang đẩy mạnh một chương trình nghị sự thiên hữu.[156]

Trước thềm cuộc bầu cử lập pháp tháng 4 năm 2019, Netanyahu đã đóng vai trò trung gian trong một thỏa thuận hợp nhất đảng Nhà Do Thái (Jewish Home)[157] với đảng cực hữu Otzma Yehudit để thành lập Liên minh các đảng cánh hữu. Mục tiêu của thỏa thuận này là giúp các đảng nhỏ vượt qua ngưỡng bầu cử. Tuy nhiên, thương vụ chính trị này đã vấp phải nhiều chỉ trích từ giới truyền thông, bởi Otzma Yehudit bị coi là một đảng phân biệt chủng tộc và có nguồn gốc từ phong trào cực đoan Kahanist.[158][159]

Nhiệm kỳ thứ năm

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 5 năm 2020, Netanyahu tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng nhiệm kỳ thứ năm trong một chính phủ liên minh với Benny Gantz. Giữa bối cảnh Đại dịch COVID-19 tại Israel và phiên tòa xét xử hình sự nhắm vào mình, các cuộc biểu tình đã bùng nổ ngay trước tư dinh Thủ tướng. Đáp lại, Netanyahu đã ban hành các quy định đặc biệt thời đại dịch nhằm giải tán đám đông, giới hạn quy mô biểu tình không quá 20 người và yêu cầu người dân không được tập trung cách nhà quá 1.000 mét.[160] Tuy nhiên, động thái này đã phản tác dụng khi làn sóng phản đối không những không thuyên giảm mà còn lan rộng ra hơn 1.000 địa điểm trên khắp cả nước.[161] Đến tháng 3 năm 2021, Israel đã trở thành quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng trên đầu người cao nhất thế giới.[162]

Sau khi căng thẳng leo thang tại Jerusalem vào tháng 5 năm 2021, Hamas đã nã tên lửa từ Gaza vào Israel, buộc Netanyahu phải phát động Chiến dịch Người gác Bức tường kéo dài 11 ngày.[163] Ngay sau chiến dịch, chính trị gia Naftali Bennett, lãnh đạo liên minh Yamina, thông báo đã đạt được thỏa thuận với Lãnh đạo phe đối lập Yair Lapid để thành lập một Chính phủ luân phiên nhằm lật đổ Netanyahu.[164] Ngày 13 tháng 6 năm 2021, Bennett và Lapid chính thức thành lập Chính phủ thứ 36 của Israel, chấm dứt 12 năm cầm quyền liên tục của Netanyahu.[165][166]

Lãnh đạo phe đối lập (2021–2022)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi kết thúc nhiệm kỳ thủ tướng thứ hai, Netanyahu bắt đầu lần thứ ba đảm nhiệm vai trò lãnh đạo phe đối lập. Dù vậy, Likud vẫn duy trì vị thế là đảng lớn nhất trong Knesset khóa 24.[167] Ông tiếp tục dẫn dắt phe đối lập cho đến cuộc tổng tuyển cử năm 2022.

Thủ tướng (2022 - nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm kỳ thứ 6

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc bầu cử năm 2022, Netanyahu một lần nữa tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng với tư cách là người lãnh đạo một liên minh theo đường lối cứng rắn. Ông chính thức bắt đầu nhiệm kỳ thứ sáu vào ngày 29 tháng 12 năm 2022.

Những tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ thứ sáu của Netanyahu tập trung vào các cải cách trong ngành tư pháp, vốn đã bị chỉ trích rộng rãi. Các nhà phê bình nhấn mạnh những tác động tiêu cực của nó đối với sự phân chia quyền lực, văn phòng của Tổng chưởng lý, nền kinh tế, sức khỏe cộng đồng, phụ nữ và dân tộc thiểu số, quyền của người lao động, nghiên cứu khoa học, sức mạnh tổng thể của nền dân chủ Israel và các mối quan hệ đối ngoại của nó. Sau nhiều tuần biểu tình công khai trên đường phố Israel, với sự tham gia của ngày càng nhiều quân nhân dự bị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Yoav Gallant cũng lên tiếng phản đối cải cách vào ngày 25 tháng 3, kêu gọi tạm dừng quy trình lập pháp "vì lợi ích an ninh của Israel". Ông đã bị Netanyahu cách chức vào ngày hôm sau, làm dấy lên các cuộc biểu tình rầm rộ hơn nữa trên khắp Israel và cuối cùng dẫn đến việc Netanyahu đồng ý trì hoãn luật trong một tháng, cho đến phiên họp tiếp theo của Knesset sau Lễ Vượt qua.

Sau cuộc tấn công bất ngờ ngày 7 tháng 10 năm 2023, Netanyahu tuyên bố Israel bước vào tình trạng chiến tranh với Hamas.[168] Ông đe dọa sẽ biến mọi nơi ẩn náu của Hamas thành "đống đổ nát" và kêu gọi người dân Gaza rời đi ngay lập tức.[169] Trước bối cảnh khẩn cấp, ông đã thành lập Chính phủ đoàn kết khẩn cấp với sự tham gia của các đảng đối lập.[170] Tuy nhiên, Netanyahu phải đối mặt với làn sóng chỉ trích dữ dội vì để xảy ra thất bại tình báo lớn nhất trong 50 năm qua. Các cuộc biểu tình quy mô lớn nổ ra đòi ông từ chức; một khảo sát năm 2023 cho thấy 86% người dân quy trách nhiệm cho giới lãnh đạo và 56% tin rằng ông phải từ bỏ quyền lực sau khi chiến tranh kết thúc.[171] Netanyahu cũng bị cáo buộc sử dụng "ngôn từ nguy hiểm" khi so sánh Hamas với bộ tộc Amalek trong Kinh Thánh.[172]

Netanyahu phát biểu trước Quốc hội Mỹ cùng Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson và Thượng nghị sĩ Ben Cardin, ngày 24 tháng 7 năm 2024.

Trong suốt cuộc chiến, Netanyahu kiên quyết bác bỏ các lệnh ngừng bắn, tuyên bố Israel sẽ "đứng vững trước cả thế giới nếu cần thiết" và mô tả các thương vong dân sự tại Gaza chỉ là "thiệt hại ngoài ý muốn".[173] Cuối năm 2023, Israel bị Nam Phi kiện lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) với cáo buộc diệt chủng.[174] Đến tháng 11 năm 2024, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) chính thức phát lệnh bắt giữ Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Gallant vì cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.[175]

Đầu năm 2025, tình hình chính trị nội bộ tiếp tục khủng hoảng khi Netanyahu sa thải Giám đốc Shin Bet Ronen Bar do mất lòng tin, trong khi Bar cáo buộc chính phủ cản trở các cuộc điều tra về tầm ảnh hưởng của Qatar.[176] Tháng 6 năm 2025, Netanyahu phát động cuộc không kích vào Iran, mở đầu cho cuộc "Chiến tranh 12 ngày".[177]

Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tại Lầu Năm Góc, ngày 5 tháng 2 năm 2025.

Đến tháng 8 năm 2025, Netanyahu công khai tuyên bố mình đang thực hiện "sứ mệnh lịch sử và tâm linh" nhằm hướng tới tầm nhìn về một nước Đại Israel, đồng thời bác bỏ sự tồn tại của một nhà nước Palestine ở phía tây Sông Jordan.[178] Cuối năm 2025, dưới sự lãnh đạo của ông, Israel trở thành quốc gia đầu tiên công nhận Somaliland là một quốc gia độc lập.[179] Tháng 2 năm 2026, Netanyahu phối hợp cùng Hoa Kỳ phát động cuộc tấn công quy mô lớn vào Iran với mục tiêu công khai là thay đổi chế độ.[180]

Các quan điểm chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu tại Diễn đàn Kinh tế thế giớiDavos, 2009

Xung đột Israel–Palestine

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, Netanyahu khẳng định sẽ không lặp lại "sai lầm" từ việc rút quân khỏi Gaza, cho rằng hành động này chỉ mang lại bất ổn thay vì hòa bình. Ông nhấn mạnh rằng bất kỳ nhà nước Palestine nào trong tương lai cũng phải được phi quân sự hóa và phải công nhận Israel là một quốc gia Do Thái.[181] Đến năm 2014, ông tái khẳng định lập trường cứng rắn: "Chúng ta không thể nhắm mắt trao trả lãnh thổ và hy vọng vào điều tốt đẹp nhất. Chúng ta đã làm thế ở Lebanon và Gaza để rồi phải hứng chịu hàng nghìn tên lửa."[182]

Thay vì tập trung vào các giải pháp ngoại giao mà ông cho là lãng phí thời gian, Netanyahu đề xuất cách tiếp cận "hòa bình kinh tế" – thúc đẩy hợp tác kinh tế và tăng trưởng cho người Palestine để giảm bớt xung đột chính trị.[183]

Năm 2013, Netanyahu bác bỏ các thông tin cho rằng chính phủ của ông chấp thuận đàm phán hòa bình dựa trên đường biên giới năm 1967.[184] Tuy nhiên, đến năm 2014, ông lại chấp nhận khung thỏa thuận của Mỹ dựa trên đường ranh giới này, đồng thời nêu điều kiện rằng những người định cư Do Thái phải được phép lựa chọn ở lại các khu định cư của họ dưới sự quản lý của Palestine.[185][186]

Netanyahu công khai ủng hộ kế hoạch hòa bình của Trump về việc thành lập một nhà nước Palestine.

Tháng 1 năm 2020, Netanyahu công khai ủng hộ kế hoạch hòa bình Israel-Palestine của Trump, gọi đó là "thỏa thuận của thế kỷ".[187] Tuy nhiên, sau khi đề xuất thất bại, Trump đã chỉ trích Netanyahu "chưa bao giờ thực sự muốn hòa bình".[188] Cựu Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson còn tiết lộ rằng vào năm 2017, Netanyahu đã cho Trump xem một video giả mạo về Chủ tịch Palestine Abbas nhằm thay đổi lập trường của Trump theo hướng có lợi cho Israel.[189]

Dưới sự trung gian của Hoa Kỳ, Hiệp định Abraham đã dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ giữa Israel với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtBahrain.[190] Đây là lần đầu tiên một quốc gia Ả Rập thiết lập quan hệ chính thức với Israel kể từ sau Jordan năm 1994. Hiệp định được ký kết bởi bộ trưởng ngoại giao các nước liên quan và Netanyahu vào tháng 9 năm 2020 tại Nhà Trắng.[191]

Lễ ký kết Hiệp định Abraham tại Nhà Trắng vào ngày 15 tháng 9 năm 2020.

Tháng 10 năm 2020, Tổng thống Trump thông báo rằng Sudan sẽ bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Israel.[192] Đây là một bước ngoặt lớn bởi Sudan từng tham gia các cuộc chiến chống lại Israel vào năm 1948 và 1967.[193] Netanyahu đã gửi lời cảm ơn tới Trump và khẳng định: "Cùng với ông ấy, chúng ta đang thay đổi lịch sử... bất chấp mọi chuyên gia và bình luận viên từng nói rằng điều đó là không thể. Họ từng bảo Israel bị cô lập hoàn toàn và đang đối mặt với một 'cơn sóng thần chính trị', nhưng thực tế đang diễn ra hoàn toàn ngược lại."[194] Tiếp nối Sudan, Thỏa thuận bình thường hóa quan hệ Israel–Morocco cũng chính thức được công bố.[195]

Tuy nhiên, vị thế ngoại giao của Netanyahu vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ một số quốc gia Hồi giáo. Vào năm 2024, Pakistan đã chính thức định danh ông là một "phần tử khủng bố" và quy trách nhiệm cho ông về các hành động tàn bạo diễn ra tại Gaza.[196]

Quan điểm kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn]
Bạn cần một xã hội trọng dụng nhân tài. Bạn cần những sáng kiến, sự mạo hiểm, tài năng và khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới phải được đền đáp... Cốt lõi luôn nằm ở sự cạnh tranh. Đó chính là động lực của tiến bộ nhân loại. Bạn cần hướng nó vào những con đường hữu ích cho sản xuất.

Benjamin Netanyahu, The Marker, 2014[197]

Đến năm 1998, Netanyahu đã nổi tiếng là một người ủng hộ nhiệt thành của thị trường tự do. Năm 1999, ông chia sẻ với tờ Jerusalem Post: "Hòa bình là mục đích tự thân [...] nhưng hòa bình mà thiếu đi thị trường tự do sẽ không thể tạo ra tăng trưởng. Ngược lại, thị trường tự do dù thiếu vắng hòa bình vẫn có thể tạo ra tăng trưởng."[198]

Trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên, ông đã cải tổ sâu rộng hệ thống ngân hàng, dỡ bỏ các rào cản đầu tư ra nước ngoài, bãi bỏ quy định bắt buộc mua chứng khoán chính phủ và các khoản tín dụng trực tiếp. Trên cương vị Bộ trưởng Tài chính (2003–2005), Netanyahu đã triển khai chương trình "từ phúc lợi đến việc làm" (welfare to work), đẩy mạnh tư hữu hóa, thu hẹp khu vực công, tinh giản hệ thống thuế và thông qua các luật chống độc quyền để tăng tính cạnh tranh.[61] Netanyahu cũng mở rộng thuế thặng dư vốn từ các công ty sang cá nhân, cho phép ông mở rộng cơ sở thuế trong khi vẫn giảm được thuế thu nhập cá nhân.[199] Khi nền kinh tế bắt đầu bùng nổ và tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh, các nhà bình luận đã ca ngợi Netanyahu là người tạo ra "phép màu kinh tế".[61] Đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế Israel đã tăng trưởng 380% hàng năm trong giai đoạn này.[200] Tuy nhiên, những người chỉ trích lại gọi quan điểm của ông là "chủ nghĩa tư bản dân túy" chịu ảnh hưởng từ Margaret Thatcher.[201]

Netanyahu định nghĩa chủ nghĩa tư bản là "khả năng sở hữu sáng kiến cá nhân và sự cạnh tranh để sản xuất hàng hóa, dịch vụ sinh lời, nhưng không được ngăn cản người khác nỗ lực làm điều tương tự".[197] Quan điểm này được định hình khi ông làm việc cho tập đoàn Boston Consulting Group (BCG): "Họ muốn xây dựng một kế hoạch chiến lược cho chính phủ Thụy Điển. Tôi tham gia dự án đó và bắt đầu nghiên cứu các chính phủ khác. Năm 1976, tôi đi khắp châu Âu, nhìn vào Anh, Pháp và thấy họ bị đình trệ bởi sự tập trung quyền lực quá mức, điều vốn ngăn cản cạnh tranh. Tôi đã nghĩ, nền kinh tế của họ đã tệ, nhưng của Israel còn tệ hơn vì chúng tôi hầu như không có không gian cho khu vực tư nhân cạnh tranh khi các công ty đều nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ hoặc công đoàn... Và tôi tự nhủ, nếu có cơ hội, tôi sẽ thay đổi điều đó."[197]

Quan điểm về chống khủng bố

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản chất của các xã hội dân chủ, điều giúp phân biệt chúng với các chế độ độc tài, chính là sự cam kết giải quyết xung đột một cách phi bạo lực thông qua tranh luận và thảo luận... Điểm mấu chốt cần phải được nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại là: không có bất kỳ lý do gì có thể biện minh cho chủ nghĩa khủng bố; bản thân nó đã là cái ác – mọi lý do thực tế hay tưởng tượng mà những kẻ khủng bố đưa ra để bào chữa cho hành động của mình đều vô nghĩa.

Benjamin Netanyahu, 1995[202]

Netanyahu từng chia sẻ rằng "lập trường cứng rắn đối với mọi loại tội phạm khủng bố" của ông là kết quả từ sự ra đi của người anh trai. Yoni Netanyahu đã tử nạn khi đang dẫn đầu sứ mệnh giải cứu con tin trong Chiến dịch Entebbe.[203]

Bên cạnh việc trực tiếp tham gia các hoạt động chống khủng bố trong thời gian quân ngũ, Netanyahu còn xuất bản ba cuốn sách về đề tài này. Ông định nghĩa chủ nghĩa khủng bố là một dạng của chủ nghĩa toàn trị:

Mục tiêu của cuộc tấn công càng xa rời nguồn gốc của những khiếu nại mà những kẻ khủng bố đưa ra, thì sự kinh hoàng càng lớn... Để chủ nghĩa khủng bố tạo ra tác động, chính sự thiếu liên kết, sự thiếu vắng bất kỳ sự dính líu hay "đồng lõa" nào của các nạn nhân được chọn đối với mục tiêu mà kẻ khủng bố tấn công, mới là thứ tạo ra nỗi sợ hãi mong muốn. Thông điệp ngầm của chủ nghĩa khủng bố là mọi thành viên trong xã hội đều "có tội", bất kỳ ai cũng có thể là nạn nhân, và do đó không ai được an toàn... những phương thức này bộc lộ bản chất toàn trị trong mọi nhóm khủng bố... Không chỉ mục đích của kẻ khủng bố không thể biện minh cho phương tiện mà chúng chọn; chính sự lựa chọn phương tiện đã chỉ ra mục đích thực sự của chúng là gì. Thay vì là những chiến binh đấu tranh cho tự do, những kẻ khủng bố là những kẻ mở đường cho sự bạo ngược. Chúng sử dụng kỹ thuật cưỡng chế bằng bạo lực để thiết lập một chế độ cưỡng chế bằng bạo lực.[204]

Netanyahu cũng đưa ra cảnh báo:

Vấn đề với các hoạt động chống khủng bố tích cực... là chúng cấu thành một sự xâm phạm đáng kể vào đời sống của những người bị giám sát.

Ông tin rằng có một sự cân bằng giữa quyền tự do dân sự và an ninh, điều này tùy thuộc vào mức độ của các cuộc tấn công khủng bố kéo dài trong một quốc gia. Trong những giai đoạn bị tấn công liên tục, cán cân nên nghiêng về phía an ninh vì "sự vi phạm khủng khiếp đối với quyền cá nhân mà các nạn nhân của khủng bố và gia đình họ phải gánh chịu".[205] Tuy nhiên, điều này cần được rà soát định kỳ, nhấn mạnh vào việc bảo vệ quyền tự do dân sự và quyền riêng tư cá nhân bất cứ khi nào điều kiện an ninh cho phép:[205] "Sự lo ngại của những người ủng hộ tự do dân sự về khả năng xâm phạm quyền của những công dân vô tội là hoàn toàn có cơ sở. Mọi quyền hạn bổ sung trao cho các cơ quan an ninh cần phải được cơ quan lập pháp gia hạn hàng năm, bên cạnh sự giám sát của tư pháp đối với các hoạt động thực thi trên thực địa."[206]

Ông khuyến nghị các luật di trú chặt chẽ hơn là yếu tố thiết yếu để phòng ngừa khủng bố: "Kỷ nguyên di cư tự do vô tổ chức nên chấm dứt. Một khía cạnh quan trọng của việc kiểm soát tình hình di cư là kiểm tra lý lịch khắt khe hơn đối với những người nhập cư tiềm năng, đi kèm với khả năng trục xuất thực tế."[206]

Ông lưu ý rằng các chính phủ không được đánh đồng những kẻ khủng bố với các nhóm chính trị hợp pháp – những bên có thể có quan điểm cực đoan hoặc không, nhưng thúc đẩy lập trường của mình bằng biện pháp thảo luận và tranh luận.[202] Ronald Reagan từng là một người ngưỡng mộ các công trình của Netanyahu về chống khủng bố và đã đề xuất cuốn sách Terrorism: How the West Can Win của ông cho các quan chức trong chính quyền của mình.[207]

Án tử hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2017, Netanyahu đã kêu gọi áp dụng án tử hình đối với kẻ thực hiện vụ tấn công bằng dao tại Halamish.[208] Các thành viên trong chính phủ của ông cũng đã đệ trình một dự luật cho phép áp dụng án tử hình đối với tội danh khủng bố.[209] Trong cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại Quốc hội vào năm 2018, đã có 52 trên tổng số 120 nghị sĩ bỏ phiếu thuận và 49 phiếu chống đối với dự luật giúp các thẩm phán dễ dàng đưa ra phán quyết tử hình hơn. Tuy nhiên, việc sửa đổi bộ luật hình sự này cần thêm ba lần thông qua nữa mới chính thức trở thành luật.[210]

Quyền LGBT

[sửa | sửa mã nguồn]

Netanyahu bày tỏ sự ủng hộ đối với quyền bình đẳng cho cộng đồng LGBT. Ông phát biểu: "Cuộc đấu tranh để mỗi người được công nhận bình đẳng trước pháp luật là một chặng đường dài và vẫn còn nhiều việc phải làm... Tôi tự hào rằng Israel nằm trong số những quốc gia cởi mở nhất thế giới liên quan đến các cuộc thảo luận về cộng đồng LGBT."[211] Tại một sự kiện về quyền của cộng đồng tại Knesset, Netanyahu chia sẻ: "Tôi được yêu cầu đến đây giữa lịch trình bận rộn để nói một điều với các thành viên nam và nữ của cộng đồng LGBT: Chúng ta phải được dẫn dắt bởi niềm tin rằng mỗi con người đều được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa."[212] Mặc dù vậy, một số thành viên trong các đảng thuộc chính phủ liên minh của ông vẫn phản đối hôn nhân đồng giới.[213]

Quốc phòng và an ninh

[sửa | sửa mã nguồn]
Người dân Israel tại Ashkelon chạy tìm nơi trú ẩn sau báo động tên lửa trong Chiến dịch Vành đai Bảo vệ.

Năm 2011, Netanyahu đã dàn xếp việc trao đổi 1.000 tù nhân Hamas và Fatah để lấy tự do cho binh sĩ Gilad Shalit, bao gồm cả những tay súng bị cáo buộc trực tiếp gây ra các vụ sát hại người Do Thái.[214] Các quan chức Israel ước tính rằng khoảng 60% những kẻ được thả đã "tiếp tục thực hiện các vụ tấn công khủng bố" sau đó.[215]

Cũng trong năm 2011, Bộ Tổng tham mưu Israel kết luận rằng các lực lượng vũ trang không thể duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu nếu thực hiện việc cắt giảm ngân sách như Netanyahu đề xuất.[216] Thay vào đó, Netanyahu đã quyết định cắt giảm các chương trình phúc lợi xã hội và cam kết tăng ngân sách quốc phòng thêm 6%.[217] Tuy nhiên, quân đội Israel vẫn thiếu hụt khoảng 3,7 triệu NIS so với dự toán, điều này được cho là có thể gây tổn hại đến khả năng tác chiến.[218] Theo một đại diện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào năm 2011, dưới thời Netanyahu và Obama, quan hệ hợp tác an ninh giữa Israel và Mỹ đã đạt được những bước tiến chưa từng có tiền lệ.[219]

Dưới sự lãnh đạo của Netanyahu, Hội đồng An ninh Quốc gia Israel đã được mở rộng vai trò trong việc hoạch định chính sách đối ngoại và ra quyết định.[220]

Trong cuộc Chiến tranh Gaza, ông đã kêu gọi Israel đảm nhận "trách nhiệm an ninh tổng thể" đối với Dải Gaza, nhấn mạnh rằng: "Chúng ta đã thấy điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta không có quyền kiểm soát đó [...] những gì diễn ra là sự bùng nổ của chủ nghĩa khủng bố Hamas ở quy mô mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi".[221]

Nhập cư bất hợp pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuốn sách xuất bản năm 1995 Fighting Terrorism, Netanyahu lập luận rằng việc thắt chặt luật di trú là phương pháp hiệu quả nhất để chống khủng bố, khẳng định: "Kỷ nguyên di cư tự do vô tổ chức này cần phải chấm dứt."[206]

Năm 2012, chính phủ Netanyahu thông qua "Luật Ngăn ngừa Xâm nhập", quy định bắt giữ tự động tất cả những người nhập cảnh trái phép vào Israel, bao gồm cả những người xin tị nạn. Tổ chức Ân xá Quốc tế đã chỉ trích đạo luật này là "sự xúc phạm đối với luật pháp quốc tế".[222][223] Giai đoạn 2009–2013, khoảng 60.000 người từ các quốc gia châu Phi đã vượt biên vào Israel.[224] Netanyahu cho rằng hiện tượng này "rất nghiêm trọng, đe dọa cấu trúc xã hội, an ninh và bản sắc dân tộc của Israel".[225] Nhiều người di cư bị giữ tại các trại tập trung ở sa mạc Negev.[226] Khi Tòa án Tối cao Israel tuyên bố Luật Ngăn ngừa Xâm nhập là bất hợp pháp vì cho phép giam giữ vô thời hạn người xin tị nạn, Netanyahu đã yêu cầu soạn thảo luật mới để lách qua phán quyết này.[227]

Netanyahu cũng thường xuyên chỉ trích chính sách nhập cư mà ông cho là quá lỏng lẻo của Liên minh Châu Âu (EU). Ông đã thúc giục lãnh đạo các nước Hungary, Slovakia, Cộng hòa SécBa Lan đóng cửa biên giới để ngăn chặn nhập cư bất hợp pháp.[228]

Những bình luận về Iran

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 2 năm 2009, sau khi bị hỏi với tư cách là thủ tướng Israel, Netanyahu đã miêu tả Iran là mối đe doạ lớn nhất mà Israel từng phải đối mặt: "Iran đang tìm kiếm sở hữu vũ khí hạt nhân và tạo lập mối đe doạ nghiêm trọng nhất tới sự tồn tại của chúng ta từ cuộc chiến tranh giành độc lập."[229]

Phát biểu trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc tại New York ngày 24 tháng 9 năm 2009, Netanyahu đã đả kích bài phát biểu của tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad trước hội đồng, nói những người tin tưởng Tehran là một mối đe doạ chỉ riêng với Israel là sai lầm. "Chế độ Iran", ông nối, "có động cơ từ sự cuồng tín… Họ muốn thấy chúng tôi quay trở lại thời Trung Cổ. Cuộc đấu tranh chống lại Iran cũng là cuộc đấu tranh của văn minh chống lại sự dã man. Chế độ này của Iran được tiếp sức bởi chủ nghĩa chính thống cực đoan."[230][95]

So sánh với Phát xít Đức

[sửa | sửa mã nguồn]

Phản đối mạnh mẽ việc Iran theo đuổi việc làm giàu uranium, Netanyahu đã nói "Đó là năm 1938, và Iran là Đức, và Iran đang chạy đua để tự vũ trang với những quả bom nguyên tử".[231][232] Trong một bài phỏng vấn ngày 8 tháng 3 năm 2007 với CNN, ông quả quyết rằng chỉ có một sự khác biệt giữa Phát xít Đức và Cộng hoà Hồi giáo Iran, chính xác là Phát xít Đức đầu tiên lao vào một cuộc xung đột toàn cầu sau đó tìm kiếm vũ khí hạt nhân, trong khi Iran đầu tiên tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân, và một khi đã có chúng, sẽ khởi động một cuộc thế chiến.

Netanyahu đã nhắc lại những lưu ý trên tại một cuộc họp báo tháng 4 năm 2008. Giải thích rằng "chế độ [Phát xít] đó lao vào một cuộc xung đột toàn cầu trước khi nó phát triển vũ khí hạt nhân," ông nói, "Chế độ này [Iran] đang phát triển vũ khí hạt nhân trước khi lao vào một cuộc xung đột toàn cầu."[233][234]

Quan hệ với các nhà lãnh đạo nước ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu cùng Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Lễ duyệt binh Ngày Chiến thắng 2018 tại Moscow. Hai nhà lãnh đạo từng có một mối quan hệ rất thân thiết.

Đảm nhiệm cương vị Thủ tướng trong ba giai đoạn không liên tục kể từ những năm 1990,[235] Netanyahu đã xây dựng được mối quan hệ gần gũi với nhiều nhà lãnh đạo thế giới. Ông có mối quan hệ thân thiết với Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, người mà ông đã quen biết hàng thập kỷ nhờ mối liên kết giữa đảng Likud và Đảng Nhân dân Châu Âu (EPP). Orbán đặc biệt ngưỡng mộ và từng nhận được nhiều lời khuyên từ Netanyahu trong giai đoạn ông giữ chức Bộ trưởng Tài chính Israel.[236]

Netanyahu cũng nổi tiếng với tình bạn thân thiết với cố Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi.[237] Ông từng ca ngợi Berlusconi: "Chúng tôi thật may mắn khi có một nhà lãnh đạo như ngài" và mô tả vị Thủ tướng Ý là "một trong những người bạn vĩ đại nhất" của Israel.[238] Netanyahu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng phát triển một mối quan hệ cá nhân nồng ấm, giúp quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh mẽ dưới thời kỳ lãnh đạo của họ.[239][240]

Netanyahu từng duy trì một "tình bạn cá nhân" nồng nhiệt với Tổng thống Nga Vladimir Putin.[241] Trong cuốn sách xuất bản năm 2022, ông đã viết về Putin một cách tích cực, mô tả vị Tổng thống Nga là người "thông minh, tinh tế và tập trung vào một mục tiêu duy nhất – đưa nước Nga trở lại sự vĩ đại lịch sử".[242] Tuy nhiên, mối quan hệ này đã trở nên căng thẳng kể từ khi Chiến tranh Gaza bùng nổ.[243]

Netanyahu cùng Viktor Orbán và các nhà lãnh đạo V4 tại hội nghị thượng đỉnh V4-Israel ở Budapest, Hungary ngày 19 tháng 7 năm 2017.
Netanyahu và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại New Delhi, Ấn Độ ngày 14 tháng 1 năm 2018. Hai nhà lãnh đạo đã có một mối quan hệ rất gần gũi.

Đầu năm 2018, quan hệ của Netanyahu với Ba Lan gặp sóng gió khi quốc hội nước này thông qua luật mới hình sự hóa các ý kiến cho rằng người Ba Lan có sự đồng lõa tập thể trong thảm họa Holocaust.[244] Netanyahu gọi bình luận của Thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki – khi cho rằng có cả "những kẻ thủ ác là người Do Thái" trong thảm họa này – là "xúc phạm".[245] Khủng hoảng trong quan hệ Israel – Ba Lan chỉ được xoa dịu vào cuối tháng 6 năm đó khi hai Thủ tướng ra một thông cáo chung xác nhận nghiên cứu lịch sử và lên án tên gọi sai lệch "trại tập trung Ba Lan".[246]

Netanyahu cùng Tổng thống Argentina Javier Milei tại Jerusalem, tháng 6 năm 2025.

Theo Efraim Zuroff từ Trung tâm Simon Wiesenthal, trong chuyến thăm của Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko tới Jerusalem, Netanyahu đã không công khai lên án chính sách của Ukraine trong việc phục hồi danh dự cho các cộng tác viên phát xít địa phương như lãnh đạo UPA Roman Shukhevych, những người từng tham gia vào việc sát hại người Do Thái.[247]

Netanyahu đã phát triển mối quan hệ thân thiết với Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro sau khi ông này đắc cử vào năm 2018.[248] Ông cũng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Tổng thống Argentina Javier Milei, gọi ông là "người bạn lớn của Nhà nước Do Thái" ngay khi Milei bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống.[249]

Kể từ năm 2023, Netanyahu và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã bắt đầu các hoạt động ngoại giao, trong bối cảnh mối quan hệ giữa Mỹ và Israel trở nên căng thẳng.[250] Tuy nhiên, tình hình ngoại giao này trở nên phức tạp do cuộc Chiến tranh Gaza, nơi Trung Quốc duy trì lập trường trung lập.[251]

Ngược lại, Netanyahu và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan luôn có mối quan hệ căng thẳng.[252] Vào tháng 3 năm 2019, sau khi bị Thổ Nhĩ Kỳ chỉ trích là phân biệt chủng tộc vì khẳng định Israel chỉ là quốc gia dân tộc của người Do Thái, Netanyahu đã gọi Erdoğan là một kẻ độc tài và chế nhạo ông vì hành động bỏ tù các nhà báo. Đáp lại, Erdoğan gọi Netanyahu là "tên trộm đứng đầu Israel", ám chỉ các vụ bê bối tham nhũng của ông. Trong cùng bài phát biểu, Erdoğan tiếp tục leo thang khi trực tiếp gọi Netanyahu là "kẻ bạo chúa sát hại những đứa trẻ Palestine 7 tuổi".[253] Netanyahu sau đó phản pháo trên Twitter rằng "Erdoğan nằm trong số những người ủng hộ Hamas lớn nhất, nên không nghi ngờ gì việc ông ta hiểu rõ về khủng bố và tàn sát." Ông cũng lên án cuộc tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ vào đông bắc Syria năm 2019 và cảnh báo về hành vi thanh trừng sắc tộc đối với người Kurd của Thổ Nhĩ Kỳ cùng các lực lượng ủy nhiệm.[254]

Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]

Netanyahu có mối quan hệ chặt chẽ với ban lãnh đạo tại Quốc hội của Đảng Cộng hòa và với ứng viên tổng thống năm 2012 của đảng này là Mitt Romney. Ông và Romney bắt đầu quen biết từ giữa những năm 1970 khi cả hai cùng làm việc tại tập đoàn Boston Consulting Group.[255]

Tại Hội nghị thượng đỉnh G-20 Cannes 2011, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Nicolas Sarkozy đã bị ghi âm lại khi nói với Tổng thống Mỹ Barack Obama rằng: "Tôi không thể chịu nổi Netanyahu, hắn là kẻ dối trá", và Obama được cho là đã đáp lại: "Ông phát ngán với ông ta, nhưng tôi thì phải đối phó với ông ta mỗi ngày."[256][257]

Netanyahu cùng Joe BidenIsaac Herzog, ngày 18 tháng 10 năm 2023.

Tháng 10 năm 2014, tác giả Jeffrey Goldberg thuật lại một cuộc trò chuyện, trong đó một quan chức cấp cao của chính quyền Obama đã gọi Netanyahu là "chickenshit" (kẻ hèn nhát) sau khi Netanyahu cáo buộc Tổng thống Obama "hành động trái với các giá trị của Mỹ". Goldberg nhận định rằng Netanyahu và nội các của ông phải chịu trách nhiệm chính cho những căng thẳng giữa hai chính phủ.[258] Ngoại trưởng John Kerry sau đó đã gọi điện cho Netanyahu để đính chính rằng "những tuyên bố như vậy là đáng xấu hổ, không thể chấp nhận được và gây hại", đồng thời khẳng định chúng "không phản ánh quan điểm của Hoa Kỳ".[259] Netanyahu đáp trả: "Tôi bị tấn công vì sự quyết tâm bảo vệ lợi ích của Israel. Sự an toàn của Israel không quan trọng đối với những kẻ tấn công cá nhân và nặc danh nhắm vào tôi."[260] Do những rạn nứt rõ rệt, các quan sát viên đánh giá mối quan hệ này đã chạm mức khủng hoảng vào cuối năm 2014.[258]

Ngày 23 tháng 12 năm 2016, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã thông qua một nghị quyết kêu gọi chấm dứt việc xây dựng các khu định cư Israel tại Bờ Tây.[261] Trái với chính sách lâu đời của Mỹ, chính quyền Obama đã bỏ phiếu trắng và không sử dụng quyền phủ quyết. Theo yêu cầu của chính phủ Netanyahu, Tổng thống đắc cử Trump đã cố gắng can thiệp bằng cách công khai kêu gọi phủ quyết nghị quyết, đồng thời thuyết phục thành công Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi tạm thời rút lại đề xuất.[262] Tuy nhiên, nghị quyết sau đó đã được Malaysia, New Zealand, SenegalVenezuela đề xuất lại và được thông qua với tỷ lệ 14–0. Văn phòng của Netanyahu cáo buộc chính quyền Obama không những không bảo vệ Israel mà còn "cấu kết từ phía sau hậu trường", đồng thời tuyên bố Israel mong muốn được làm việc với Tổng thống đắc cử Trump để xóa bỏ những tác động có hại của nghị quyết này.[263]

Netanyahu và Donald Trump trong lễ ký kết Hiệp định Abraham ngày 15 tháng 9 năm 2020.

Netanyahu và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quen biết nhau từ nhiều năm trước.[264] Netanyahu vốn là bạn của cha Donald Trump, ông Fred Trump, từ những năm 1980 khi Netanyahu sống ở New York và đảm nhiệm vai trò đại sứ tại Liên Hợp Quốc.[36] Năm 2013, Trump đã thực hiện một video ủng hộ Netanyahu trong cuộc bầu cử tại Israel, gọi ông là "một nhà lãnh đạo tuyệt vời, người vĩ đại đối với Israel". Tháng 6 năm 2019, Netanyahu đã chính thức đặt tên cho một khu định cư tại khu vực tranh chấp Cao nguyên Golan theo tên của Donald Trump để tri ân ông.[265] Tuy nhiên, theo trợ lý Jared Kushner, vào tháng 1 năm 2020, Trump đã trở nên thất vọng với những phát ngôn của Netanyahu về việc sáp nhập Thung lũng Jordan và từng cân nhắc việc ủng hộ đối thủ chính trị của ông là Benny Gantz.[266] Sau khi Netanyahu gửi lời chúc mừng Joe Biden giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2020, mối quan hệ này đã đổ vỡ. Trump cáo buộc Netanyahu là kẻ không trung thành và tuyên bố rằng ông đã "phạm một sai lầm khủng khiếp".[267]

Tổng thống Mỹ Joe Biden, một người thuộc Đảng Dân chủ, cũng đã duy trì tình bạn với Netanyahu trong nhiều thập kỷ. Trong cuộc tranh luận phó tổng thống năm 2012, Biden khẳng định mối quan hệ này đã kéo dài hơn 39 năm.[268] Tháng 3 năm 2010, trong chuyến thăm của Biden tới Israel, Netanyahu cũng nhận xét rằng tình bạn của họ đã bắt đầu từ gần ba mươi năm trước đó.[269] Tuy nhiên, vào mùa xuân năm 2024, mối quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo đã trở nên căng thẳng tột độ do các tranh cãi liên quan đến chiến dịch tấn công Rafah của Israel tại Gaza.[270]

Cuộc sống cá nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân và các mối quan hệ

[sửa | sửa mã nguồn]
Netanyahu thắp nến Hanukkah đêm đầu tiên tại văn phòng Thủ tướng ở Jerusalem cùng vợ, Sara và các con trai, Yair và Avner, 1996.

Netanyahu đã kết hôn ba lần và vướng vào nhiều vụ ngoại tình. Cuộc hôn nhân đầu tiên của Netanyahu là với Miriam Weizmann, người ông gặp tại Israel. Weizmann sống gần căn hộ của Yonatan Netanyahu tại Jerusalem, nơi Netanyahu đóng quân trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự. Đến khi Netanyahu hoàn thành nghĩa vụ, Weizmann cũng đã kết thúc thời gian phục vụ trong quân đội và có bằng cử nhân hóa học từ Đại học Do Thái Jerusalem. Năm 1972, cả hai cùng sang Mỹ du học; bà theo học tại Đại học Brandeis, còn Netanyahu học tại MIT. Họ kết hôn ngay sau đó và có một con gái chung là Noa (sinh ngày 29 tháng 4 năm 1978).[271][272]

Năm 1978, khi Weizmann đang mang thai, Netanyahu gặp một sinh viên người Anh không phải gốc Do Thái tên là Fleur Cates tại thư viện trường và bắt đầu ngoại tình. Cuộc hôn nhân của ông kết thúc bằng việc ly hôn ngay sau khi Miriam phát hiện ra sự việc. Năm 1981, Netanyahu kết hôn với Cates sau khi bà cải sang Do Thái giáo.[207] Sau khi cùng Netanyahu chuyển về Israel, Cates đã đệ đơn ly hôn vào năm 1988.[207]

Người vợ thứ ba của ông, Sara Ben-Artzi, là một tiếp viên hàng không cho hãng El Al trên chuyến bay từ New York về Israel khi họ gặp nhau.[51] Bà khi đó đang hoàn thành bằng thạc sĩ tâm lý học.[273] Cặp đôi kết hôn vào năm 1991 và có hai con trai: Yair (sinh ngày 26 tháng 7 năm 1991), từng là binh sĩ trong đơn vị phát ngôn của IDF,[274] và Avner (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1994), nhà vô địch Kinh thánh quốc gia và từng phục vụ trong Quân đoàn Thu thập Tình báo Chiến đấu thuộc IDF.[275]

Năm 1993, Netanyahu đã thú nhận trên truyền hình trực tiếp về việc ngoại tình với Ruth Bar, cố vấn quan hệ công chúng của mình. Ông tuyên bố rằng một đối thủ chính trị đã cài camera bí mật ghi lại cảnh nhạy cảm của ông với Bar, và ông bị đe dọa sẽ tung cuốn băng cho báo giới trừ khi rút khỏi cuộc đua ghế lãnh đạo đảng Likud. Netanyahu và Sara sau đó đã hàn gắn cuộc hôn nhân, và ông vẫn đắc cử vị trí lãnh đạo Likud.[276] Năm 1996, truyền thông đưa tin ông có mối quan hệ thân thiết kéo dài 20 năm với Katherine Price-Mondadori, một phụ nữ người Mỹ gốc Ý.[277]

Sức khỏe

[sửa | sửa mã nguồn]

Netanyahu bị mắc chứng Block nhánh phải (RBBB) từ khoảng năm 2003.[278] Trong nửa đầu năm 2008, các bác sĩ đã thực hiện thủ thuật cắt bỏ một Polyp đại tràng nhỏ và kết quả xét nghiệm cho thấy đó là khối u lành tính.[279] Vào ngày 22 tháng 7 năm 2023, ông đã được phẫu thuật cấy ghép máy tạo nhịp tim.[280] Đến tháng 3 năm 2024, các bác sĩ phát hiện ông bị thoát vị và đã tiến hành phẫu thuật điều trị sau đó.[281] Tháng 12 năm 2024, Netanyahu đã phải phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt sau một đợt nhiễm trùng đường tiết niệu do phì đại tuyến tiền liệt gây ra.[282]

Bác sĩ riêng và cũng là bạn thân của ông là nhà nhi khoa gốc Romania, Herman Berkovits.[283]

Tin đồn qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2026, xuất hiện một số thông tin cho rằng ông đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của Iran[284]. Ngay sau đó, Netanyahu đã đăng tải một số đoạn video bác bỏ và chế giễu những tin đồn này[284], sự việc đã được hãng tin Reuters xác thực.[285] Theo i24NEWS, tin đồn này bắt nguồn từ một báo cáo giả mạo của Hãng thông tấn Tasnim thuộc Iran.[286]

Sách và bài viết

[sửa | sửa mã nguồn]

Sách:

Bài viết:

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Phát âm /ˌn[invalid input: 'đ']tənˈjɑːh/ NET-ən-YAH-hoo;[1] tiếng Hebrew: בִּנְיָמִין "בִּיבִּי" נְתַנְיָהוּ, đã Latinh hoá: Binyamin "Bibi" Netanyahu, phát âm [binjaˈmin netanˈjahu]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Netanyahu". Dictionary.com Chưa rút gọn. Random House. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  2. "Benjamin Netanyahu Fast Facts". CNN (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2025.
  3. "Benjamin Netanyahu". Israel Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
  4. 1 2 "Benjamin Netanyahu, Israel's defiant leader" (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 13 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
  5. Algazi, Gadi (ngày 23 tháng 1 năm 2023). "משפחת נתניהו: על הציר giữa Mỹ và thuộc địa tại Palestine" [The Netanyahu Family: On the Axis between America and its Colony in Palestine]. Local Conversation (bằng tiếng Do Thái).
  6. Joffe, Lawrence (ngày 2 tháng 5 năm 2012). "Benzion Netanyahu obituary". The Guardian.
  7. Remnick, David (ngày 17 tháng 5 năm 1998). "The Outsider: Benjamin Netanyahu's complex histories". The New Yorker.
  8. Pfeffer, Anshel (2018). Bibi: The Turbulent Life and Times of Benjamin Netanyahu. New York: Basic Books, Hachette Book Group. ISBN 978-0-465-09782-1.
  9. Itamar Eichner (25 May 2016) "Netanyahu: Tôi cũng có nguồn gốc Sephardic" Lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2016 tại Wayback Machine, Ynetnews
  10. Winer, Stuart. "Netanyahu tiết lộ nguồn gốc từ Tây Ban Nha". The Times of Israel (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
  11. Lidman, Melanie (ngày 28 tháng 8 năm 2012). "Thủ tướng từng là một học sinh lớp 6 'có trách nhiệm', theo bản đánh giá". The Jerusalem Post. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012.
  12. 1 2 "Thủ tướng Benjamin Netanyahu". Ynetnews. ngày 10 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013.
  13. 1 2 3 Moyer, Justin (ngày 3 tháng 3 năm 2015). "Lý do Benjamin Netanyahu quá cứng rắn: Ông ấy đến từ Philadelphia". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015.
  14. "Chủ nghĩa dân tộc Do Thái cánh hữu đã tạo ra Netanyahu. Sau đó Netanyahu đã làm chủ nó". Haaretz. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
  15. Moussa, Emad (ngày 30 tháng 11 năm 2022). "'My Story' của Netanyahu: Qua lăng kính của một nhà tư tưởng kiên định". The New Arab. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2023.
  16. Ginsburg, Mitch (ngày 25 tháng 10 năm 2012). "Giải cứu Trung sĩ Netanyahu". The Times of Israel. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014.
  17. Melman, Yossi (ngày 18 tháng 11 năm 2010). "Sau hơn sáu thập kỷ, Israel tưởng niệm cố chỉ huy Đơn vị Do Thái thuộc Quân đội Anh". Haaretz. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2013.
  18. Buhbut, Amir. "Sayeret Matkal tròn 50 tuổi". NRG Maariv. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2011.
  19. 1 2 3 4 Ball, Charles H. (ngày 5 tháng 6 năm 1996). "Giáo sư hồi tưởng về việc học tập cường độ cao của Netanyahu trong ba lĩnh vực". MIT Tech Talk. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2013.
  20. 1 2 "Thống kê nhập học". Văn phòng Đăng ký MIT. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012.
  21. "MIT 150: 150 ý tưởng, phát minh và nhà đổi mới đã giúp định hình thế giới của chúng ta". The Boston Globe. ngày 15 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011.
  22. "Benjamin Netanyahu là ai?". The Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
  23. "Giáo sư hồi tưởng về việc học tập cường độ cao của Netanyahu trong ba lĩnh vực". MIT News | Viện Công nghệ Massachusetts (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 6 năm 1996. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
  24. Cathy Hartley, David Lea, Paul Cossali, Annamarie Rowe, Survey of Arab-Israeli Relations (Taylor & Francis, 2004), p. 522
  25. "Hồ sơ: Benjamin Netanyahu". BBC News. ngày 20 tháng 2 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2013.
  26. "Benjamin Netanyahu | Tiểu sử, Giáo dục, Đảng phái, Biệt danh & Sự thật | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
  27. Gresh, Alain; Vidal, Dominique (2004). The New A–Z of the Middle East (ấn bản thứ 2). I.B. Tauris. tr. 217. ISBN 978-1-86064-326-2.
  28. Ariel, Mira (2008). Pragmatics and Grammar. Cambridge Textbooks in Linguistics. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-55018-5.
  29. Mazal Mualem (30 September 2014), "Netanyahu's rhetoric brings same old message" Lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2015 tại Wayback Machine, Al-Monitor's Israel Pulse
  30. 1 2 Barbaro, Michael (ngày 7 tháng 4 năm 2012). "A Friendship Dating From 1976 Resonates in 2012". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012.
  31. Video Benjamin Netanyahu 1978 trên YouTube (English);Who is Ben Nitay, and why does he look so much like Binyamin Netanyahu? Lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2015 tại Wayback Machine, Jerusalem Post
  32. Shirley Anne Warshaw, The Clinton Years (Infobase Publishing, 2009), p. 240
  33. 1 2 3 4 "Benjamin Netanyahu". Netanyahu.org. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  34. Caspit, Ben (ngày 11 tháng 7 năm 2017). The Netanyahu Years. Macmillan. ISBN 978-1-250-08706-5. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  35. David Singer, American Jewish Yearbook Lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Wayback Machine. AJC, 1998. pp. 133–34
  36. 1 2 Sherman, Gabriel (1 June 2016). "Trump Is Considering a Pre-Convention Visit to Israel" Lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2018 tại Wayback Machine. New York.
  37. "Netanyahu thắng trong cuộc chiến giành quyền lãnh đạo Likud". The Independent. London. ngày 26 tháng 3 năm 1993. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009.
  38. Brinkley, Joel (ngày 30 tháng 6 năm 2012). "Yitzhak Shamir, Cựu Thủ tướng Israel, qua đời ở tuổi 96". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2013.
  39. Kessel, Jerrold (ngày 11 tháng 2 năm 1996). "Bầu cử Israel sẽ thử thách sự ủng hộ cho tiến trình hòa bình". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.
  40. 1 2 Schmemann, Serge (ngày 30 tháng 5 năm 1996). "BẦU CỬ ISRAEL: TỔNG QUAN; Cuộc đua Thủ tướng Israel đang ở thế cân bằng". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  41. Berger, Joseph (ngày 26 tháng 5 năm 1996). "Từng là cố vấn của Pataki; Giờ là của Netanyahu". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  42. "Năm 1996". Viện Dân chủ Israel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
  43. "Netanyahu, Arafat bắt tay sau thỏa thuận Hebron". CNN. ngày 14 tháng 1 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  44. Wyler, Grace (ngày 31 tháng 1 năm 2013). "Bên trong những đường hầm bí ẩn dưới Bức tường phía Tây". Business Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  45. Hawas, Akram T. (13–16 August 1998). "Liên minh mới: Thổ Nhĩ Kỳ và Israel". Hội nghị Bắc Âu lần thứ 4 về Nghiên cứu Trung Đông. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021.
  46. "Khaled Meshaal: Vụ ám sát hụt của Mossad kết thúc trong thảm họa". The Telegraph. ngày 7 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  47. "Bối cảnh về tù binh và lính mất tích của Israel". Bộ Ngoại giao Israel. ngày 26 tháng 1 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  48. Schmemann, Serge (ngày 26 tháng 7 năm 1997). "Trong cuộc chiến tư hữu hóa, Netanyahu giành chiến thắng". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  49. Wilkinson, Tracy (ngày 29 tháng 3 năm 2000). "Cảnh sát Israel đề nghị truy tố vợ chồng Netanyahu về việc xử lý quà tặng quốc gia". Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  50. "Mối quan hệ lâu dài và cay đắng giữa Netanyahu và Hamas". NPR. ngày 26 tháng 1 năm 2024.
  51. 1 2 "Benjamin Netanyahu, Likud". Ynetnews. ngày 28 tháng 3 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2009.
  52. "Netanyahu hiện là cố vấn công nghệ cao". Los Angeles Times. Associated Press. ngày 3 tháng 8 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012.
  53. Freund, Oren (ngày 19 tháng 9 năm 2012). "Công ty cũ của Benjamin Netanyahu niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tel Aviv". TheMarker (bằng tiếng Do Thái). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2010.
  54. "Sharon đánh bại Netanyahu trong cuộc bầu cử sơ bộ của Likud". Fox News Channel. ngày 28 tháng 11 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  55. "Đại học Concordia áp lệnh cấm các sự kiện Trung Đông". Hiệp hội Giảng viên Đại học Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2013.
  56. Levin, Steve (ngày 2 tháng 10 năm 2002). "Netanyahu nói Hoa Kỳ nên lật đổ Saddam". Pittsburgh Post-Gazette. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013.
  57. "Quan điểm của Israel về cuộc xung đột với Iraq". Hạ viện Hoa Kỳ. C-SPAN. ngày 12 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2025.
  58. 1 2 "Kerry nhắc nhở Quốc hội rằng Netanyahu từng khuyên Mỹ xâm lược Iraq". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2018.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  59. 1 2 3 Asa-El, Amotz. "3 bài học kinh tế từ Ariel Sharon". MarketWatch. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  60. Mitchell, Thomas G. (2015). Likud Leaders. Jefferson, North Carolina: McFarland. tr. 186. ISBN 978-0-7864-9713-3.
  61. 1 2 3 Likud Leaders, Thomas G. Mitchell, McFarland (March 2015), Chương 10
  62. Scott, Jeremy (ngày 13 tháng 11 năm 2015). "Các cải cách kinh tế của Netanyahu và Đường cong Laffer". Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  63. Hoffman, Gil (ngày 21 tháng 11 năm 2005). "Netanyahu: Sharon là một kẻ độc tài". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  64. Alon, Gideon (ngày 26 tháng 10 năm 2004). "Knesset thông qua kế hoạch rút quân của Thủ tướng Sharon". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  65. Farrell, Stephen (ngày 8 tháng 8 năm 2005). "Netanyahu từ chức khỏi Nội các vì việc rút quân khỏi Gaza". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2024.
  66. 1 2 "Netanyahu đắc cử chủ tịch đảng Likud". Xinhua News Agency. ngày 20 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  67. Marciano, Ilan (ngày 28 tháng 3 năm 2006). "Likud choáng váng trước sự sụp đổ". Ynetnews. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  68. "Netanyahu giành quyền lãnh đạo Likud". BBC News. ngày 15 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  69. Mitnick, Joshua (ngày 20 tháng 6 năm 2008). "Olmert: Thỏa thuận ngừng bắn với Hamas rất 'mong manh'". The Washington Times. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  70. Tran, Mark (ngày 31 tháng 7 năm 2008). "Netanyahu kêu gọi bầu cử mới tại Israel". The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  71. Mualem, Mazal (ngày 24 tháng 9 năm 2008). "Netanyahu bác bỏ lời kêu gọi chính phủ đoàn kết của Livni". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  72. Colvin, Marie (ngày 8 tháng 2 năm 2009). "Netanyahu khơi dậy nỗi sợ hãi để dẫn đầu các cuộc thăm dò". The Sunday Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2024.
  73. Kershner, Isabel (ngày 20 tháng 2 năm 2009). "Netanyahu chuẩn bị thành lập chính phủ mới của Israel". The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
  74. "Netanyahu tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Israel". Haaretz. ngày 31 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.
  75. Heller, Jeffrey (ngày 31 tháng 3 năm 2009). "Netanyahu nhậm chức Thủ tướng Israel". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  76. "Clinton cam kết thúc đẩy thành lập nhà nước Palestine". Daily Times. Pakistan. ngày 4 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  77. "Tại Israel, Clinton cam kết làm việc với chính phủ mới". The New York Times. ngày 3 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  78. "Israel yêu cầu người Palestine công nhận nhà nước Do Thái". International Business Times. ngày 16 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  79. 1 2 3 "Israel chấp nhận một Nhà nước Palestine phi vũ trang". CBS News. ngày 14 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  80. "Netanyahu ủng hộ nhà nước Palestine phi quân sự". Haaretz. ngày 14 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  81. Keinon, Herb (ngày 14 tháng 6 năm 2009). "Netanyahu muốn một nhà nước Palestine phi quân sự". The Jerusalem Post.
  82. Federman, Josef (ngày 14 tháng 6 năm 2009). "Diễn văn hòa bình của Netanyahu: Thủ tướng Israel kêu gọi các lãnh đạo Ả Rập vì hòa bình". The Huffington Post.
  83. "Thành viên Likud nói Thủ tướng đã nhượng bộ trước áp lực của Mỹ". Ynet. ngày 14 tháng 6 năm 2009.
  84. "Livni: Netanyahu không tin vào giải pháp hai nhà nước". Haaretz. ngày 7 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  85. "Hamas chỉ trích tư tưởng 'phân biệt chủng tộc, cực đoan' của Netanyahu". Ynet. ngày 14 tháng 6 năm 2009.
  86. "Bài phát biểu của Netanyahu gây phẫn nộ cho thế giới Ả Rập". Xinhua News Agency. ngày 15 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  87. "EU thận trọng hoan nghênh bài phát biểu của Netanyahu". Reuters. ngày 15 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  88. "Nablus bùng nổ khi các rào chắn bị dỡ bỏ ở Bờ Tây". The Daily Star. ngày 11 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  89. "Netanyahu ủng hộ sáng kiến hòa bình Ả Rập". United Press International. ngày 24 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  90. "Mỹ, EU chỉ trích việc Netanyahu phê duyệt xây dựng". Ynetnews. ngày 4 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  91. "Báo cáo: Thủ tướng hội đàm bí mật tại Nga". Ynetnews. ngày 10 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  92. "Netanyahu bí mật thăm Nga: các báo cáo". Reuters. ngày 9 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  93. "Israel nêu tên những người Nga giúp Iran chế tạo bom hạt nhân". The Sunday Times. ngày 4 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2024.
  94. "Diễn văn của Netanyahu / Thủ tướng chỉ trích cuộc điều tra tại Gaza, thách thức LHQ đối mặt với Iran". Haaretz. ngày 24 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  95. 1 2 "Thủ tướng phát biểu tại LHQ: Iran bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa cực đoan". Ynetnews. ngày 24 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  96. "Netanyahu đáp trả những tuyên bố về Holocaust của Iran". 3 News. ngày 25 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  97. "Phân tích: Những người định cư đã nỗ lực nhiều tháng để phá hoại lệnh đóng băng xây dựng". Haaretz. ngày 27 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  98. Gollust, David (ngày 25 tháng 11 năm 2009). "Mỹ hoan nghênh động thái định cư của Israel, thúc giục Palestine đàm phán". Voice of America. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  99. Sofer, Roni (ngày 25 tháng 11 năm 2009). "Nội các bỏ phiếu về lệnh đóng băng xây dựng 10 tháng". Ynetnews. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  100. "Palestine bác bỏ đề xuất đóng băng định cư từng phần của Netanyahu". France 24. ngày 26 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  101. 1 2 "'Chúng tôi sẽ ngăn chặn những sự cố gây bối rối trong tương lai'". The Jerusalem Post. ngày 14 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  102. "Sự phẫn nộ tại Ramat Shlomo khi mâu thuẫn định cư gia tăng". The Times. London. ngày 16 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  103. Ravid, Barak (ngày 21 tháng 3 năm 2010). "Netanyahu và Obama sẽ gặp nhau tại Washington vào thứ Ba". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  104. "Các cuộc đàm phán hòa bình Trung Đông mở ra với sự lạc quan thận trọng". NBC News. ngày 1 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  105. Dougherty, Jill (ngày 27 tháng 9 năm 2010). "Mỹ thúc đẩy đàm phán khi Israel tiếp tục xây dựng khu định cư". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  106. Ravid, Barak (ngày 6 tháng 9 năm 2011). "Likud bảo vệ Netanyahu sau báo cáo nói rằng Gates gọi ông là 'vô ơn'". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  107. Winer, Stuart (ngày 14 tháng 5 năm 2012). "Thủ tướng hứa với Abbas về một nhà nước Palestine phi quân sự". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  108. "Netanyahu và đối thủ tranh cãi về vụ Pollard". New York Daily News. ngày 19 tháng 1 năm 1999.
  109. Ross, Dennis (2007). Statecraft: And How to Restore America's Standing in the World. Farrar, Straus and Giroux. tr. 213.
  110. "Cựu Thủ tướng Netanyahu thăm Pollard trong tù". Netanyahu.org. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  111. Hoffman, Gil (ngày 19 tháng 5 năm 2011). "Netanyahu trấn an Esther Pollard trước chuyến thăm DC". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  112. Lis, Jonathan (ngày 9 tháng 11 năm 2010). "Lời thỉnh cầu của Netanyahu gửi Obama: Hãy thả Jonathan Pollard". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  113. "Các khuyến nghị của Ủy ban Trajtenberg đã được trình lên Thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính hôm nay" (PDF) (Thông cáo báo chí). Bộ Tài chính Israel. ngày 27 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích thông cáo báo chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  114. Avi Bar-Eli, Meirav Arlosoroff; Ora Coren (ngày 15 tháng 11 năm 2011). "Bất chấp lời hứa của Thủ tướng, hầu hết các khuyến nghị của Trajtenberg có thể không bao giờ trở thành luật". The Marker. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  115. "Nội các công bố dịch vụ truy cập internet cáp quang tới mọi gia đình". Trade Bridge Consultants. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  116. Perez, Gad (ngày 26 tháng 6 năm 2013). "Người dân Israel được hưởng lợi từ dự án cáp quang". Globes. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  117. Lis, Jonathan (ngày 8 tháng 5 năm 2012). "Trong một động thái bất ngờ, Netanyahu và Mofaz đồng ý thành lập chính phủ đoàn kết, hủy bỏ bầu cử sớm". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  118. Leshem, Elie (ngày 27 tháng 10 năm 2012). "Netanyahu và Liberman thông báo danh sách tranh cử chung vào Knesset". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  119. Tobin, Amir (ngày 20 tháng 3 năm 2015). "'Con tàu này đang chìm?' Bên trong sự sụp đổ của chiến dịch chống lại Netanyahu". The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  120. Hoffman, Gil (ngày 10 tháng 2 năm 2009). "Kadima thắng, nhưng khối cánh hữu lớn nhất". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  121. Davidoff, Steven (ngày 7 tháng 1 năm 2014). "Cuộc đại tu nền kinh tế Israel mang lại bài học cho Hoa Kỳ". The New York Times Dealbook blog. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  122. "Netanyahu: Thời đại độc quyền cảng biển đã kết thúc". Globes English. ngày 19 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  123. Peter Beaumont, "Israel lên án Mỹ vì ủng hộ chính phủ đoàn kết Palestine", The Guardian, 3 tháng 6 năm 2014
  124. Jodi Rudoren (ngày 15 tháng 6 năm 2014). "Netanyahu nói ba thiếu niên bị Hamas bắt đi". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  125. "Chiến dịch 'Vành đai Bảo vệ' của IDF bắt đầu tại Gaza". The Jewish Press. ngày 8 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  126. "Netanyahu: Hamas là những kẻ khủng bố diệt chủng". Israel News.Net. ngày 21 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  127. Ravid, Barak (ngày 7 tháng 10 năm 2014). "Nhà Trắng đáp trả Netanyahu: Các giá trị Mỹ đã mang lại Vòm Sắt cho Israel". Haaretz.
  128. "Độc quyền: Netanyahu hủy buổi báo cáo tình báo cho các Nghị sĩ Mỹ về nguy cơ từ Iran". Time. ngày 14 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  129. Moran Azulay, "Netanyahu nói không có nhà nước Palestine nếu ông tiếp tục làm Thủ tướng", Ynet, 16 tháng 3 năm 2015.
  130. "Netanyahu rút lại lời hứa tranh cử về việc từ chối giải pháp hai nhà nước". Vice News. ngày 19 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  131. "Knesset bỏ phiếu giải tán, ấn định bầu cử mới vào ngày 17 tháng 3". The Times of Israel. ngày 8 tháng 12 năm 2014.
  132. "Rivlin gia hạn 2 tuần cho Netanyahu để thành lập liên minh" Lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2015 tại Wayback Machine, The Jerusalem Post, 20 tháng 4 năm 2015
  133. 1 2 "Vào phút chót, Netanyahu hoàn tất liên minh với 61 ghế". The Times of Israel. Jerusalem. ngày 6 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  134. Heller, Jeffery (ngày 6 tháng 5 năm 2015). "Netanyahu đạt được thỏa thuận thành lập chính phủ mới của Israel". London: Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  135. Winer, Stuart (ngày 6 tháng 8 năm 2015). "Nội các thông qua ngân sách nhà nước giai đoạn 2015–2016". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  136. Shtrasler, Nehemia (ngày 17 tháng 11 năm 2015). "Israel chuẩn bị thông qua một ngân sách gây thất vọng". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  137. "Thủ tướng Netanyahu tại Đại hội Do Thái thế giới lần thứ 37". YouTube. IsraeliPM. ngày 20 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  138. "Tuyên bố của Netanyahu về việc Mufti Palestine gợi ý thảm họa Holocaust vấp phải sự chỉ trích rộng rãi". The New York Times. ngày 21 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  139. "Netanyahu: Hitler ban đầu không muốn diệt chủng người Do Thái". Haaretz. ngày 21 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  140. 1 2 Aderet, Ofer (ngày 22 tháng 10 năm 2015). "Các sử gia khẳng định việc thảm sát người Do Thái tại châu Âu đã bắt đầu nhiều tháng trước khi Hitler gặp Mufti". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  141. Tate, Emily (ngày 22 tháng 10 năm 2015). "Netanyahu bị chỉ trích vì một hình thức 'phủ nhận Holocaust'". Irish Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  142. "Netanyahu đối mặt với khủng hoảng khi phe Haredim dọa rút lui vì vấn đề đa dạng tại Bức tường phía Tây". The Jerusalem Post. ngày 7 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  143. Collinson, Stephen (ngày 24 tháng 12 năm 2016). "Mỹ bỏ phiếu trắng khi LHQ yêu cầu chấm dứt các khu định cư của Israel". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  144. Sanger, David E. (ngày 28 tháng 12 năm 2016). "Kerry khiển trách Israel, gọi các khu định cư là mối đe dọa đối với hòa bình". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  145. Barak, Ravid (ngày 26 tháng 12 năm 2016). "Netanyahu nói về cuộc bỏ phiếu của LHQ: Israel sẽ không cam chịu". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  146. "Israel cắt 6 triệu USD đóng góp cho LHQ để phản đối nghị quyết về khu định cư". Fox News. ngày 6 tháng 1 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  147. "Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đáp xuống Sydney giữa những tranh cãi" Lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2017 tại Wayback Machine, ABC News Online, 22 tháng 2 năm 2017
  148. "Israel cùng Mỹ rút khỏi Unesco". BBC News. ngày 12 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  149. Irish, John (ngày 12 tháng 10 năm 2017). "Mỹ, Israel rời cơ quan di sản LHQ với cáo buộc thiên vị". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  150. Landau, Noa (ngày 22 tháng 12 năm 2017). "Tiếp bước Mỹ, Israel tuyên bố rút khỏi UNESCO". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  151. Hacohen, Hagay (ngày 29 tháng 12 năm 2017). "Chạy đua với thời gian, Israel nộp thư xin rút khỏi UNESCO". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  152. "Netanyahu hé lộ chương trình hạt nhân bí mật của Iran". The Jerusalem Post. ngày 30 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  153. "Netanyahu chúc mừng Trump về hội nghị thượng đỉnh với Kim và chính sách về Iran". i24NEWS. ngày 12 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  154. Halbfinger, David M.; Kershner, Isabel (ngày 19 tháng 7 năm 2018). "Luật Israel tuyên bố quốc gia này là 'Nhà nước Dân tộc của Người Do Thái'". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  155. Lis, Jonathan; Landau, Noa (ngày 19 tháng 7 năm 2018). "Israel thông qua Đạo luật Nhà nước Dân tộc Do Thái gây tranh cãi sau cuộc tranh luận gay gắt". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  156. Halbfinger, David M. (ngày 20 tháng 7 năm 2018). "Israel củng cố chương trình nghị sự cánh hữu sau một tuần lập pháp đầy căng thẳng". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  157. Wilner, Michal. "Những người theo tư tưởng Kahanist mà Netanyahu đã mở cửa vào Knesset là ai?". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2019.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  158. Halbfinger, David M. (ngày 24 tháng 2 năm 2019). "Netanyahu gây phẫn nộ vì liên minh với đảng phân biệt chủng tộc". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  159. "Lịch sử về phân biệt chủng tộc và khiêu khích của Otzma Yehudit". Ynetnews. ngày 21 tháng 2 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  160. "Quốc hội Israel bỏ phiếu hạn chế biểu tình giữa lệnh phong tỏa quốc gia lần thứ hai". i24News. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  161. ""Cờ Đen" biểu tình tại hơn 1.000 điểm trên toàn quốc". www.maariv.co.il. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  162. "Chiến dịch tiêm chủng COVID-19 của Israel đang chậm lại ở thời điểm quan trọng". Time. ngày 19 tháng 3 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  163. Harkov, Lahav (ngày 21 tháng 5 năm 2021). "Netanyahu và các quan chức quốc phòng gọi chiến dịch là thất bại 'thay đổi cuộc chơi' của Hamas". The Jerusalem Post. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  164. Eglash, Ruth (ngày 17 tháng 5 năm 2020). "Sau ba cuộc bầu cử và bế tắc chính trị, Israel cuối cùng đã có chính phủ mới". The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  165. "Hết thời cho Netanyahu, vị Thủ tướng tại vị lâu nhất của Israel". Al Jazeera. ngày 13 tháng 6 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  166. Picheta, Rob (ngày 29 tháng 12 năm 2022). "Benjamin Netanyahu tuyên thệ nhậm chức lãnh đạo chính phủ có thể là thiên hữu nhất lịch sử Israel". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  167. "Israel tuyên thệ nhậm chức liên minh mới, kết thúc sự thống trị lâu dài của Netanyahu". POLITICO. Associated Press. ngày 13 tháng 6 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  168. Dahman, Ibrahim (ngày 7 tháng 10 năm 2023). "Netanyahu nói Israel đang 'trong chiến tranh' khi các tay súng Palestine tấn công bất ngờ". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  169. "Netanyahu: Chúng tôi sẽ biến nơi ẩn náu của Hamas thành 'đống đổ nát'". Ynetnews. ngày 7 tháng 10 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  170. Sharon, Jeremy (ngày 7 tháng 10 năm 2023). "Netanyahu đề nghị Lapid, Gantz gia nhập chính phủ đoàn kết khẩn cấp". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  171. "Người dân Israel đổ lỗi cho chính phủ về vụ thảm sát của Hamas, nói Netanyahu phải từ chức". The Jerusalem Post. ngày 12 tháng 10 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  172. "Lịch sử nguy hiểm đằng sau luận điệu Amalek của Netanyahu". The Mother Jones. ngày 3 tháng 11 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  173. "Netanyahu: Chúng tôi sẽ thách thức thế giới nếu cần để đánh bại Hamas". The Times of Israel. ngày 12 tháng 11 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  174. Vụ kiện của Nam Phi chống lại Nhà nước Israel ngày 29 tháng 12 năm 2023. International Court of Justice (Báo cáo).
  175. "ICC phát lệnh bắt giữ Netanyahu, Gallant và chỉ huy Hamas vì cáo buộc tội ác chiến tranh". BBC. ngày 21 tháng 11 năm 2024.
  176. "Nội các Israel nhất trí cách chức người đứng đầu Shin Bet Ronen Bar". Haaretz. ngày 20 tháng 3 năm 2025.
  177. "Israel tấn công chương trình hạt nhân và lãnh đạo quân sự Iran". CNN. ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  178. "Các nước Ả Rập và Hồi giáo lên án phát ngôn 'Đại Israel' của Netanyahu". Al Jazeera. ngày 16 tháng 8 năm 2025.
  179. "Ngoại trưởng Israel thăm lịch sử Somaliland". BBC. ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  180. Sanger, David E. (ngày 28 tháng 2 năm 2026). "Với Trump, tấn công Iran là cuộc chiến của sự lựa chọn cuối cùng". The New York Times.
  181. Sofer, Roni (ngày 9 tháng 8 năm 2009). "Netanyahu thề không lặp lại 'sai lầm' rút quân khỏi Gaza". Ynetnews. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  182. Efune, Dovid (ngày 6 tháng 10 năm 2014). "Netanyahu nói lập trường về yêu cầu an ninh đã trở nên 'cứng rắn hơn'". Algemeiner Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  183. Ahren, Raphael (ngày 20 tháng 11 năm 2008). "Netanyahu: Kinh tế, chứ không phải chính trị, mới là chìa khóa của hòa bình". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  184. "Netanyahu phủ nhận việc đồng ý đàm phán hòa bình dựa trên đường biên giới năm 67". The Jerusalem Post. ngày 18 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  185. "Quan chức Israel: Palestine nên cho phép các khu định cư tồn tại". Associated Press. ngày 26 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  186. "Netanyahu nói ông đã đồng ý với đề xuất đàm phán của Mỹ dựa trên đường biên giới năm 67". The Jerusalem Post. ngày 3 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  187. "Netanyahu: Kế hoạch hòa bình Trung Đông của Trump là 'thỏa thuận của thế kỷ'". BBC News. ngày 28 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  188. "Trump nói Netanyahu 'chưa bao giờ muốn hòa bình' với người Palestine". Axios. ngày 13 tháng 12 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  189. "Netanyahu sử dụng video cắt ghép về Abbas để gây ảnh hưởng đến chính sách của Trump". Haaretz. ngày 12 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  190. "Hiệp định Abraham". Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
  191. "Israel, UAE và Bahrain ký Hiệp định Abraham; Trump gọi đây là "bình minh của một Trung Đông mới"". The Hindu. ngày 16 tháng 9 năm 2020.
  192. "Trump thông báo Mỹ làm trung gian bình thường hóa quan hệ Israel-Sudan". Voice of America. ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  193. "'Có, có, có': Tại sao hòa bình với Khartoum là sự thay đổi mô hình thực sự cho Israel". The Times of Israel. ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  194. "Netanyahu gợi ý về vai trò của Israel trong các cuộc đột kích Sudan trước đây". The Times of Israel. ngày 24 tháng 10 năm 2020.
  195. "Morocco là quốc gia tiếp theo bình thường hóa quan hệ với Israel". BBC News. ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  196. "Pakistan gọi Netanyahu của Israel là "phần tử khủng bố"". Voice of America. ngày 19 tháng 7 năm 2024.
  197. 1 2 3 Rolnik, Guy (ngày 11 tháng 4 năm 2014). "Netanyahu: Truyền thông doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về chủ nghĩa tư bản thân hữu tại Israel". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  198. Hofmann, Sabine (ngày 12 tháng 4 năm 2016) [2012]. "Hợp tác vùng trong xung đột: Hợp tác kinh doanh Israel–Ả Rập tại Trung Đông". Hơn cả chủ nghĩa khu vực? Hợp tác vùng, Chủ nghĩa khu vực và Khu vực hóa tại Trung Đông (ấn bản thứ 1). Ashgate Publishing Company. tr. 191. ISBN 978-1-315-56925-3.
  199. Arik: Cuộc đời của Ariel Sharon, David Landau (Knopf Doubleday Publishing Group 2014), Chương 14
  200. Đầu tư nước ngoài vào Israel đạt mức kỷ lục Globes, 26 tháng 9 năm 2005, Zeev Klein
  201. Cánh hữu chính trị tại Israel: Các khía cạnh của chủ nghĩa dân túy Do Thái, Dani Filc (Routledge, 2009), tr. 65
  202. 1 2 Fighting Terrorism: How Democracies Can Defeat Domestic and International Terrorism. Farrar, Straus and Giroux. 1995. tr. 19. ISBN 978-0-374-15492-9.
  203. Thomas, Gordon. Gideon's Spies: The Secret History of the Mossad, Macmillan Publishers (2009) tr. 145
  204. Fighting Terrorism: How Democracies Can Defeat Domestic and International Terrorism. Farrar, Straus and Giroux. 1995. tr. 8–9. ISBN 978-0-374-15492-9.
  205. 1 2 Fighting Terrorism: How Democracies Can Defeat Domestic and International Terrorism. Farrar, Straus and Giroux. 1995. tr. 33. ISBN 978-0-374-15492-9.
  206. 1 2 3 Fighting Terrorism: How Democracies Can Defeat Domestic and International Terrorism. Farrar, Straus and Giroux. 1995. tr. 142. ISBN 978-0-374-15492-9.
  207. 1 2 3 Margolick, David (ngày 5 tháng 6 năm 1996). "Ngôi sao của Zion". Vanity Fair.
  208. "Netanyahu yêu cầu án tử hình cho kẻ khủng bố tại Halamish". The Times of Israel. ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2017.
  209. "Các lãnh đạo Israel thúc đẩy án tử hình cho 'kẻ khủng bố'". The Times of Israel. Agence France-Presse. ngày 17 tháng 12 năm 2017.
  210. "Những người ủng hộ án tử hình tại Israel giành chiến thắng trong cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại quốc hội". Reuters. ngày 3 tháng 1 năm 2018.
  211. Thủ tướng nói với cộng đồng LGBT: Israel nằm trong số những quốc gia cởi mở nhất thế giới 6 tháng 11 năm 2015, The Jerusalem Post
  212. "Knesset đánh dấu Ngày Quyền lợi Cộng đồng người đồng tính; Thủ tướng Netanyahu: 'Chúng ta phải được dẫn dắt bởi niềm tin rằng mọi người đều được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa'" Công bố: 23 tháng 2 năm 2016, Thông cáo báo chí của Knesset
  213. "Khảo sát các nghị sĩ Israel về hôn nhân đồng giới". The Jerusalem Post. ngày 14 tháng 6 năm 2022.
  214. Kahn, Gabe (ngày 18 tháng 10 năm 2011). "Hamas: Israel đã vượt qua các giới hạn đỏ của chính mình". Arutz Sheva.
  215. Vick, Karl (ngày 18 tháng 10 năm 2011). "Phóng thích Gilad Shalit: Niềm vui của Israel xen lẫn ký ức về Intifada". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  216. Harel, Amos (ngày 11 tháng 10 năm 2011). "Sức chiến đấu của IDF sẽ bị ảnh hưởng nếu cắt giảm ngân sách, các sĩ quan cấp cao cảnh báo". Haaretz.
  217. Bassok, Moti (ngày 26 tháng 12 năm 2011). "Netanyahu quyết định không cắt giảm ngân sách quốc phòng năm 2012 của Israel". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  218. Harel, Amos. "IDF phải dừng bay các chiến đấu kinh và đóng băng sản xuất Vòm Sắt do khó khăn ngân sách". Haaretz. 12 tháng 2 năm 2012.
  219. Shapiro, Andrew J. "Đảm bảo lợi thế quân sự định tính của Israel". Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 4 tháng 11 năm 2011.
  220. Haviv Rettig Gur (ngày 6 tháng 1 năm 2014). "Bên trong Nhà Trắng của Israel: Cách Netanyahu điều hành đất nước". The Times of Israel.
  221. "Israel chiến đấu với Hamas tại trung tâm thành phố Gaza và dự kiến kiểm soát an ninh khu vực sau chiến tranh". AP News. ngày 7 tháng 11 năm 2023.
  222. "Israel: Những người xin tị nạn bị chặn tại biên giới". Human Rights Watch. ngày 8 tháng 10 năm 2012.
  223. "Israel: Luật giam giữ mới vi phạm quyền của người xin tị nạn". Amnesty International. ngày 10 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  224. "Israel sẽ bỏ tù người di cư bất hợp pháp lên đến ba năm". Reuters. ngày 3 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  225. "Thủ tướng Israel: Người di cư châu Phi bất hợp pháp đe dọa bản sắc của quốc gia Do Thái". The Guardian. ngày 20 tháng 5 năm 2012.
  226. "'Chúng tôi là tù nhân ở đây', những người di cư tại trại giam giữ trên sa mạc của Israel lên tiếng". The Daily Telegraph. ngày 4 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  227. "Tổ chức tị nạn Do Thái chỉ trích Netanyahu về vấn đề người xin tị nạn". Haaretz. ngày 10 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  228. Ahren, Raphael (ngày 19 tháng 7 năm 2017). "Trong phát ngôn bị ghi âm trộm, Netanyahu chỉ trích chính sách 'điên rồ' của EU đối với Israel". The Times of Israel.
  229. "Binyamin Netanyahu targets Iran after he is appointed Prime Minister". Luân Đôn: The Times. ngày 20 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  230. "Netanyahu slams UN, challenges it to confront Iran". Haaretz. ngày 24 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2009.
  231. Hirschberg, Peter (ngày 14 tháng 11 năm 2006). "Netanyahu: It's 1938 and Iran is Germany; Ahmadinejad is preparing another Holocaust". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  232. Fleetwood, Blake (ngày 15 tháng 11 năm 2006). ""Ahmadinejad Is Preparing Another Holocaust For Israel"". The Huffington Post. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  233. "Report: Netanyahu says 9/11 terror attacks good for Israel". Haaretz. ngày 16 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  234. Hess, Michael (ngày 16 tháng 4 năm 2008). "Benjamin Netanyahu: 9/11 Terror Attacks "Good for Israel"". BBSNews. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009.
  235. Heller, Aron (ngày 17 tháng 7 năm 2019). "Netanyahu đi vào lịch sử với tư cách là nhà lãnh đạo tại vị lâu nhất của Israel". Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  236. "Thủ tướng Hungary: Chúng tôi chia sẻ cùng những mối lo ngại về an ninh như Israel". Israel Hayom. ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  237. Eldar, Akiva (ngày 14 tháng 6 năm 2011). "Netanyahu đã gia nhập cùng người bạn Berlusconi trong một liên minh của những kẻ bị hắt hủi". Haaretz. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  238. Glickman, Aviad (ngày 2 tháng 1 năm 2010). "Netanyahu nói với Berlusconi: Israel may mắn khi có ngài là bạn". Ynet.
  239. "Với Modi, Netanyahu vẫn là một 'người bạn thân thiết'". The Jerusalem Post. ngày 26 tháng 11 năm 2019.
  240. "Ấn Độ chuyển sang lập trường ủng hộ mạnh mẽ Israel dưới thời Modi". The Guardian. ngày 31 tháng 10 năm 2023.
  241. "Putin và Netanyahu đặt nền móng cho sự can thiệp sâu hơn của Nga-Israel". Al-Monitor. ngày 4 tháng 4 năm 2019.
  242. "Ngoại trưởng Ukraine chỉ trích các chính trị gia Israel khoe khoang tình bạn với Putin". Axios. ngày 25 tháng 10 năm 2022.
  243. "Netanyahu nói với Putin: Sự hợp tác của ngài với Iran là nguy hiểm". The Jerusalem Post. ngày 10 tháng 12 năm 2023.
  244. "Israel và Ba Lan xung đột về dự luật Holocaust". Reuters. ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  245. "Benjamin Netanyahu chỉ trích Thủ tướng Ba Lan vì nói người Do Thái nằm trong số những kẻ thủ ác của Holocaust". The Independent. ngày 18 tháng 2 năm 2018.
  246. "Thông tin mới nhất: Israel xác nhận quan điểm của Ba Lan về phát xít". The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018.
  247. "Các học giả Holocaust lo ngại ký ức lịch sử bị hy sinh cho mối quan hệ nồng ấm của Israel với Đông Âu". Jewish Telegraphic Agency. ngày 29 tháng 1 năm 2019.
  248. Ben Zion, Ilan (ngày 31 tháng 3 năm 2019). "Netanyahu bắt tay với Bolsonaro thuộc phe cực hữu của Brazil tại Israel" qua AP News.
  249. Lazar, Berman (ngày 7 tháng 2 năm 2024). "Netanyahu gặp nhà lãnh đạo mới của Argentina Milei, 'người bạn lớn' của Israel". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  250. "Khi quan hệ Israel-Mỹ gặp khó khăn, Trung Quốc nói ông Tập 'mong chờ' chuyến thăm của Netanyahu". The Times of Israel. ngày 26 tháng 7 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  251. Tang, Didi (ngày 15 tháng 10 năm 2023). "Cuộc chiến Israel-Hamas đảo lộn tham vọng của Trung Quốc tại Trung Đông". AP News. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  252. "Netanyahu: Lời chế nhạo 'bài Do Thái' của Erdogan xúc phạm ký ức về Holocaust". Haaretz. ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  253. "Erdogan gọi Netanyahu là 'tên trộm' và 'kẻ bạo chúa' trong cuộc khẩu chiến mới nhất". Associated Press. ngày 13 tháng 3 năm 2019.
  254. "Netanyahu cảnh báo Thổ Nhĩ Kỳ thanh trừng sắc tộc 'người Kurd quả cảm'; hứa sẽ hỗ trợ". Haaretz. ngày 10 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  255. Barbaro, Michael (ngày 8 tháng 4 năm 2012). "Tình bạn từ năm 1976 vang vọng đến năm 2012". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  256. "Báo cáo: Sarkozy gọi Netanyahu là 'kẻ dối trá'". Ynet. ngày 7 tháng 11 năm 2011.
  257. Reals, Tucker (ngày 8 tháng 11 năm 2011). "Sarkozy nói với Obama: Tôi phát ngán với Netanyahu". CBS News.
  258. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "crisis"
  259. "Kerry gọi điện cho Netanyahu để xin lỗi về lời lăng mạ 'chickenshit'". The Jerusalem Post. ngày 31 tháng 10 năm 2014.
  260. "Netanyahu: Tôi bị tấn công vì quyết tâm bảo vệ lợi ích của Israel". The Jerusalem Post. ngày 29 tháng 10 năm 2014.
  261. Cortellessa, Eric (ngày 23 tháng 12 năm 2016). "Chọn không phủ quyết, Obama để nghị quyết chống định cư thông qua tại Hội đồng Bảo an". The Times of Israel. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  262. Baker, Peter (ngày 23 tháng 12 năm 2016). "Đối với Obama và Netanyahu, một cuộc đụng độ cuối cùng sau nhiều năm xung đột". The New York Times.
  263. "Các khu định cư của Israel: Hội đồng Bảo an LHQ kêu gọi chấm dứt". BBC News. ngày 23 tháng 12 năm 2016.
  264. Dearden, Lizzie (ngày 11 tháng 11 năm 2016). "Donald Trump mời Benjamin Netanyahu đến Mỹ sau khi Thủ tướng Israel chúc mừng 'người bạn thực sự của Israel'". The Independent.
  265. "Cao nguyên Golan: Israel khánh thành khu định cư 'Trump Heights'". BBC News. ngày 16 tháng 6 năm 2019.
  266. Ravid, Barak (tháng 8 năm 2022). "Kushner cho biết trong sách: Trump từng muốn ủng hộ đối thủ của Netanyahu trước cuộc bầu cử tháng 3 năm 2020". Axios.
  267. "Trump cáo buộc Netanyahu không trung thành". ngày 10 tháng 12 năm 2021.
  268. "Bản ghi âm cuộc tranh luận Phó Tổng thống". NPR. ngày 11 tháng 10 năm 2012.
  269. "Phát biểu chung của Phó Tổng thống Biden và Thủ tướng Netanyahu trước báo giới". whitehouse.gov. ngày 9 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  270. Berman, Lazar (ngày 8 tháng 10 năm 2024). "Biden được cho là đã gọi Netanyahu là 'kẻ dối trá' sau khi quân đội Israel tiến vào Rafah". The Times of Israel.
  271. "Chúc mừng ngài Thủ tướng! Cháu ngoại đầu tiên của Netanyahu chào đời". Haaretz. ngày 1 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  272. Miskin, Maayana (ngày 8 tháng 10 năm 2009). "Cháu trai của Netanyahu được đặt tên". Arutz Sheva.
  273. "Bà Sara Netanyahu". Văn phòng Thủ tướng.
  274. "Con trai Benjamin Netanyahu nhận công việc PR mới tại IDF". Globes. ngày 10 tháng 4 năm 2011.
  275. Gordon, Evelyn (ngày 17 tháng 3 năm 2010). "Netanyahu con giành giải nhất cuộc thi Kinh thánh quốc gia". The Jerusalem Post.
  276. "Gia đình Netanyahu: Một mối quan hệ đầy màu sắc". BBC News. ngày 28 tháng 3 năm 2000.
  277. "Ai đã sa thải bảo mẫu của Thủ tướng?", Associated Press, 7 tháng 7 năm 1996
  278. "15 giây nghẹt thở: Một ngày đầy kịch tính về sức khỏe của Netanyahu". www.israelhayom.co.il. ngày 23 tháng 7 năm 2023.
  279. "Netanyahu trải qua kiểm tra y tế". Arutz Sheva. ngày 4 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  280. "Ngay trước cuộc bỏ phiếu: Netanyahu được cấy máy tạo nhịp tim đêm qua". Ynet. ngày 22 tháng 7 năm 2023.
  281. "Thủ tướng Israel Netanyahu sắp trải qua phẫu thuật thoát vị". Associated Press. ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  282. Goldenberg, Tia (ngày 29 tháng 12 năm 2024). "Bệnh viện Israel cho biết Netanyahu đã phẫu thuật tuyến tiền liệt thành công". Associated Press.
  283. "Sức khỏe của Thủ tướng Israel nằm trong tay một bác sĩ người Romania". ngày 23 tháng 11 năm 2014.
  284. 1 2 "Ông Netanyahu lần đầu xuất hiện sau tin đồn thiệt mạng". Znews.vn. ngày 16 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  285. "Netanyahu đăng video phản hồi tin đồn từ Iran rằng ông đã chết". Reuters. ngày 15 tháng 3 năm 2026.
  286. Brown, Joe (ngày 15 tháng 3 năm 2026). "Benjamin Netanyahu đã chết? Tin giả trở thành tiếng nói lớn nhất trên mạng xã hội". i24NEWS.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Chức vụ chính trị
Tiền nhiệm
Shimon Peres
Thủ tướng Israel
1996 – 1999
Kế nhiệm
Ehud Barak
Bộ trưởng Ngoại giao
2002 – 2003
Kế nhiệm
Silvan Shalom
Tiền nhiệm
Silvan Shalom
Bộ trưởng Tài chính
2003 – 2006
Kế nhiệm
Ehud Olmert
Tiền nhiệm
Ehud Olmert
Thủ tướng Israel
2009 – hiện tại
Đương nhiệm
Chức vụ ngoại giao
Tiền nhiệm:
Yehuda Blum
Đại sứ Israel tại Liên hiệp quốc
1984–1988
Kế nhiệm:
Johanan Bein
Chức vụ Đảng
Tiền nhiệm:
Yitzhak Shamir
Lãnh đạo Likud
1993 – 1999
Kế nhiệm:
Ariel Sharon
Tiền nhiệm
Ariel Sharon
Lãnh đạo Likud
2005 – hiện tại
Đương nhiệm